An ninh năng lượng đừng để nước đến chân…
Thành tựu của hơn 20 năm đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ta là vô cùng to lớn, từ một nước nhập khẩu gạo trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. song, với hiệu ứng hàng loạt nước trên thế giới hàng ngày phía đối diện với nạn thiếu lương thực là lời cảnh báo đối với chúng ta.Do đó, vấn đề “đảm bảo an ninh lương thực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” phải trở thành quốc sách và cần nhanh chóng rút kinh nghiệm kịp thời sửa chữa những khiếm khuyết đã và đang tồn tại:
- Phải hạn chế tối đa việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác, bằng cách có chính sách “đặc biệt ưu đãi” để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các miền trung du, miền núi, cao nguyên. Lãnh đạo Nhà nước cần kiểm tra toàn bộ các khu đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng. Cả nước cần ổn định bao nhiêu triệu hecta đất nông nghiệp, phân cụ thể cho từng tỉnh nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho 120 triệu dân trong tương lai. Phải tiết kiệm từng mảnh đất nhỏ, như người miền núi, trung du… đã mất hàng trăm năm mới tạo được những mảnh ruộng bậc thang (mặc dù kém màu mỡ)… trong khi nhiều tỉnh, thành đã chuyển hàng chục hecta đất nông nghiệp màu mỡ làm các khu công nghiệp, sân gôn, các khu cư xá trồng các loại cây khác (với một tỉnh nông nghiệp vậy mà đã cấp phép đầu tư hơn chục sân gôn)… càng gây lo lắng cho những người đã từng sống trong những năm tháng thiếu lương thực của nước ta, dù tạm thời có thu nhập cao, song về lâu dài sẽ xảy ra thiếu lương thực khó tránh khỏi nếu không kịp thời chấn chỉnh.
Ông cha ta phải mất hàng trăm năm, thậm chí còn lâu hơn nữa mới tạo được lớp đất màu mỡ 20 - 30cm để sản xuất nông nghiệp, khi đã làm khu công nghiệp, xây nhà ở, sân gôn… muốn hoán cải trở lại đất nông nghiệp thì không dễ chút nào. Sản xuất gạch ngói đất nung là cần thiết song phải nghiêm cấm xâm phạm vào đất nông nghiệp bởi không dễ gì tái tạo lại, cần khuyến khích sử dụng các loại vật liệu khác thay thế (gạch nhẹ không nung, tôn…).
- Khí hậu toàn cầu đang thay đổi ngày càng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, lũ lụt, hạn hán, sâu rầy… nhất là dự đoán sau 50 - 60 năm nữa mực nước biển sẽ dâng cao, hàng triệu hecta đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng… sẽ bị ngập bởi thủy triều, thật sự đã trở thành thảm hoạ cho cuộc sống của con người, song không quá hoang mang bởi vì: cả thế giới sẽ có giải pháp đối phó ngay từ bây giờ. Riêng Việt Nam, nhân dân đồng bằng sông Cửu Long đã qua nhiều thế kỷ sống và phát triển ở vùng nước nổi (lũ lụt), cùng với việc áp dụng khoa học kỹ thuật phát triển và sự chủ động đối phó của Nhà nước, chắc chắn rồi mọi người sẽ thích nghi khi mực nước dâng cao.
Thế mạnh của Việt Nam là ¾ diện tích đất thuộc trung du, cao nguyên, miền núi, lại trải dài hơn 2.000 km, có xương sống là đường Hồ Chí Minh ngày càng được nâng cấp, rất lý tưởng cho việc phát triển công nghiệp trong tương lai, tất nhiên hiện tại còn phải xây dựng nhiều đường nhánh ra phía biển và phải có chính sách “đặc biệt ưu đãi” kêu gọi các nhà đầu tư.
- Mặt trái của việc cổ động sản xuất nhiên liệu sinh học (etanol) là giảm diện tích trồng cây lương thực và cả nước ngọt cho trồng trọt. Thuỵ Sĩ giảm 15%, Achentina giảm hơn ½ đất canh tác, các nước Braxin, Trung Quốc, Indonesia, Mỹ, Sê-nê-gan… cũng giảm đáng kể đất trồng cây lương thực để trồng các loại cây sản xuất nhiên liệu sinh học. Các nhà khoa học, các nhà quản lý ở tầm vĩ mô cần phải tính toán, cân nhắc kỹ nên phát triển đến mức độ nào và loại nguyên liệu gì để chưng cất ra etanol. Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, tiêu tốn nước ngọt sẽ là thảm hoạ cho hàng tỷ dân ở các nước nghèo vì thiếu ăn.
Sản xuất nhiên liệu sinh học ở nước ta là cần thiết, song phải chọn loại cây nhiên liệu gì ít cạnh tranh với đất trồng cây lương thực như: cây dầu mè (có thể trồng dọc các tuyến đường, đê, ven biển, ở những vùng khô hạn), rơm - rạ; một số cỏ có năng suất cao như cỏ hoa bản, một số loài vi tảo biển; các phế liệu từ các nhà máy chế biến trái cây (một số nhà khoa học gọi là các nhiên liệu sinh học thế hệ thứ hai). Nhà nước cần đầu tư kinh phí cho các công trình nghiên cứu trên, không nên chờ đợi các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu.
- Cần có cuộc “cách mạng lần thứ II” trong điều kiện đất canh tác thu hẹp, nước ngập cao hơn cả nước ngọt, lợ, mặn… phải có những giống cây thích nghi, có năng suất cao cũng như các loại giống thích nghi với đất khô hạn ở vùng trung du, cao nguyên… không nên khuyến khích trồng lúa chất lượng cao vì năng suất thấp mà nên phát triển giống lúa có năng suất cao, kháng rầy… vì diện tích đất nông nghiệp của ta có hạn.
- Các nhà dinh dưỡng học, chế biến lương thực, thực phẩm cần đầu tư nghiên cứu chế biến ra nhiều sản phẩm mới, với chất bột từ: khoai tây, ngô, sắn, khoai lang… sao cho phù hợp khẩu vị người ăn, từng bước giảm dần việc sử dụng gạo.
- Người nông dân sản xuất lương thực nuôi sống mọi người trong xã hội, song họ lại thuộc tầng lớp nghèo trong xã hội, dù giá lúa - gạo có tăng cao, song nhiều người nông dân ngày càng không tha thiết với đồng ruộng. Nhà nước cần đầu tư thoả đáng hơn nữa trong lĩnh vực nông nghiệp, giảm hẳn các khoản đóng góp của người nông dân, mở nhiều lớp học đào tạo nghề miễn phí, tiến tới bỏ hẳn cả thuế nông nghiệp… Làm sao để họ có được cuộc sống ngày càng khá hơn, ngang tầm với mức sống trung bình của người thành phố để họ an tâm với việc ruộng đồng. Nếu không, đến lúc nào đó nông thôn chỉ còn lại người già và trẻ con thì làm sao có sức để sản xuất đủ lương thực cung cấp cho xã hội.
- Cần có những giải pháp hữu hiệu để kiềm chế tốc độ tăng dân số (hợp lý) trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp là giải pháp không thể thiếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Việt Nam đang xuất khẩu gạo, song vấn đề an ninh lương thực cần phải có tầm nhìn xa, phải đặt lên hàng đầu, đừng để nước đến chân mới nhảy thì sẽ vô cùng khó khăn.








