Ai cũng có thể phòng ngừa ung thư
Mỗi người tự ngừa bệnh
Đừng hút thuốc. Uống rượu ít thôi
Đa số các ung thư vùng miệng (môi, lưỡi, nướu răng...) họng và thanh quản (cơ quan nói) đều do nghiện rượu và nghiện thuốc. Bỏ thuốc làm giảm ba phần tư số người bị ung thư thanh quản. Bỏ thói say bí tỉ và chỉ dùng rượu nhẹ thôi (một chai bia nhỏ mỗi ngày) thì giảm ba phần tư các ung thư miệng, thực quản (dựa trên thống kê quốc tế). Không ít người kêu lên: “Con người ta rồi ai cũng chết, sống sao chi vui sướng thì thôi, sáu bảy mươi tuổi mới bị ung thư lận mà”. Không hút thuốc không chỉ nhằm tránh ung thư phổi đâu. Lợi trước mắt nhiều lắm. Thuốc lá liên hệ rõ ràng ba nguy cơ chính bị các bệnh thường gặp và nặng nhất: Bệnh đường hô hấp, tim mạch và ung thư.Bên cạnh hình ảnh đen tối bao trùm vấn đề hút thuốc có loé một tia hy vọng: ngưng hút thuốc có thể chặn đứng diễn tiến của quá trình bệnh lý và cho phép các chức năng phổi, tim hồi phục gần hoàn toàn.
Còn phải kể đến những người hút thuốc thụ động: Chẳng phải hút thuốc lá có hại cho riêng người hút mà người sống chung cũng chịu ảnh hưởng tai hại. Người không hút có thể chịu trực tiếp tác dụng của thuốc lá: chồng hút, vợ hít, các con ké theo.
Giữ vệ sinh thân thể
Săn sóc thật kỹ răng miệng: Tình trạng nhiễm trùng vùng răng miệng, sâu răng mãn tính được coi là yếu tố thuận lợi cho ung thư vùng này. Ở người nghiện thuốc nghiện rượu, thói quen “ăn nhậu” lại khiến lơ là vấn đề vệ sinh răng miệng. Vệ sinh sinh dục và sinh lý: Nguy cơ ung thư cổ tử cung có liên hệ chủ yếu viêm nhiễm HPV. Các chứng nhiễm trùng do virut và các vi khuẩn khác gây nên các viêm loét cổ tử cung, về sau thành cơ địa thuận lợi cho ung thư.
Nên ăn uống như thế nào để giảm nguy cơ bị ung thư? Chính ăn uống cũng là yếu tố quan trọng gây ra một số bệnh ung thư: Điều thuận lợi là chế độ ăn uống phòng ngừa ung thư không bắt buộc phải thay đổi “tận gốc” nếp sống cũng như phải tốn kém thêm: chỉ cần tránh các thói quen quá đà và sửa đổi một chút cách ăn uống. Không riêng đề phòng ung thư, lời khuyên dinh dưỡng này còn phù hợp lời khuyển để ngừa các bệnh khác nữa: Đái tháo đường, tim mạch, huyết áp cao. Nên theo chế độ dinh dưỡng dựa trên các nét sau: Ăn nhiều các loại trái cây, rau và các thứ có nhiều chất xơ và cho bã “độn ruột”. Bớt thịt, bớt mỡ, bớt chất nhiều calori. Tránh càng nhiều càng hay các loại rượu và một số thức ăn chiên xào quá nóng, các thức ăn chứa các hoá chất độc hại và các thức ăn nhanh (fast foods).
Nên tránh, nhất là đừng “mê tín”: Các thức ăn đóng hộp vì phương thức giữ thức ăn công nghiệp có thể làm tổng hợp chất bitrosamin, có khả năng gây ung thư. Các thức ăn chiên xào (có nhiều hydrocacbon) và nhiều mỡ (theo kiểu nấu của người Hoa). Các thức ăn quá nóng, các thức uống cháy cổ họng.
Phải vận động nhiều, giữ đúng cân và khoả mạnh. Cố gắng vận động vừa phải ít nhất nửa giờ hoặc hơn mỗi ngày. Giữ đúng trọng lượng thân thể hợp lý.
Hướng dẫn về việc rà tìm & phát triển sớm bệnh ung thư
Từ lâu, hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) và Chương trình phòng chống ung thư của liên hiệp Châu Âu (EU) đã chính thức phổ biến các chỉ dẫn về việc phát hiện sớm các bệnh ung thư. Việc rà tìm và phát hiện sớm ung thư đã giúp cải thiện rõ rệt kết quả điều trị những năm gần đây. Trong hoàn cảnh thực tế của nước ta, xin có một số gợi ý để phát hiện sớm những loại ung thư thường gặp.
Vị trí | Lời khuyên |
Kiểm tra sức khoẻ toàn diện có lưu ý về ung thư | Cần thực hiện cứ khoảng 3 năm một lần ở lứa tuổi 20 - 40 và mỗi năm một lần nếu trên 40 tuổi. Việc kiểm tra ung thư còn tuỳ thuộc tuổi tác và nhằm vào tuyến giáp, miệng, da, các hạch lymphô, tinh hoàn và buồng trứng. Cũng lưu ý luôn các bệnh không ác tính |
Ung thư cổ tử cung | Phụ nữ lập gia đình đã có quan hệ tình dục nên đi thử tế bào (xét nghiệm Pap) và khám phụ khoa hàng năm. Nếu đã khám được liên tục 3 lần hoặc nhiều hơn mà có kết quả bình thường thì có thể thử Pap cách khoảng lâu hơn. Nên hỏi bác sĩ. Khám phụ khoa định kỳ hàng năm là việc rất tốt chẳng những có thể phát hiện sớm mà còn phòng ngừa được ung thư cổ tử cung vì sớm trị các bệnh viêm nhiễm liên hệ vi rut HPV, nguyên nhân đáng lưu tâm của loại ung thư này. |
Vú | Phụ nữ trong lứa tuổi 20 - 39 nên tự khám vú hàng tháng và được khám lâm sàng (có thể kèm siêu âm) kiểm tra bộ ngực ít nhất 3 năm 1 lần. Phụ nữ tuổi từ 40 trở lên nên tự khám vú hàng tháng, đi khám lâm sàng (±siêu âm) kiểm tra bộ ngực và nếu có điều kiện chụp nhũ ảnh cứ 1 - 2 năm một lần. |
Đại tràng và trực tràng (ruột già và ruột cùng) | Từ 50 tuổi, nam lẫn nữ nếu có điều kiện đều nên làm một trong các khám nghiệm sau: Thử tìm máu trong phân hàng năm và nội soi đại tràng sigma (ống soi mềm) mỗi 3 năm. Nội soi ruột già mỗi 10 năm. - Bác sĩ thăm khám trực tràng (ruột cùng) bằng ngón tay khi thấy có triệu chứng như là trĩhoặc khám cùng lúc với nội soi ruột. - Người nào có nguy cơ vừa hoặc cao (người thân ruột thịt bị ung thư ruột...) nên hỏi bác sĩ bao lâu nên kiểm tra. |
Gan | Từ 40 tuổi, có nguy cơ cao (viêm gan siêu vi) nên khám lâm sàng + siêu âm bụng 2 - 3 năm một lần. |
Bao tử (dạ dày) | Từ 40 tuổi, có bệnh sử viêm loét bao tử nên được soi nội bao tử (ống mềm) 3 - 5 năm một lần, có thể kèm thêm thử tìm vi khuẩn Helicobacter pylorivà chụp bao tử có cản quang. |
Tuyến tiền liệt | Từ tuổi 60, đàn ông nên được thử dấu hiệu sinh học PSA 3 năm một lần và có thể kèm thêm thăm khám trực tràng bằng ngón tay. |
Phổi | Đàn ông trên 40 tuổi có nguy cơ cao (nghiện thuốc nặng trên 10 năm) nên chụp phim phổi 1 - 2 năm một lần. |
Sau khi báo TSK số 343 phát hành, độc giả đã gọi điện về toà soạn nêu thắc mắc về bảng liệt kê trong phần “Tình hình ung thư trên thế giới” ở trang 20. Toà soạn đã liên hệ vơi GSBS Nguyễn Chấn Hùng, và được giải thích như sau: Theo thống kê toàn thế giới gần đây nhất (năm 2002): - Tổng số ca mắc mới ung thư trên toàn thế giới trong năm 2002 là 10.862.000 người, trong đó số ca ung thư phổi là 1.350.000, số ca ung thư vú là 1.150.000, số ca ung thư đại trực tràng là 1.000.000. - Tổng số người chết vì ung thư trong năm 2002 là 6.724.000; trong đó số người chết do ung thư phổi là 1.180.000 số người chết do dạ dày là 934.000, số người chết do ung thư gan là 580.000. - Tổng số người mắc bệnh ung thư trên 5 năm còn sống là 24.570.000; trong đó số người bệnh ung thư vú 4.400.000, số người bệnh ung thư đại trực tràng là 2.830.000, số người bệnh ung thư tiền liệt tuyến là 2.360.000. |
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 344, 15 - 11 - 2007, tr 22








