Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 20/05/2011 18:29 (GMT+7)

Á Nam Trần Tuấn Khải

Anh Khóa ơi! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,

Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh.

Tay cầm trầu giọt lệ chạy quanh,

Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương.

Đó là một cuộc chia ly như tất cả những cuộc chia ly từ nghìn thuở trên đất nước Việt Nam có người phụ nữ giữ khăn trầu, cầm một miếng trầu đưa cho người nam, nhưng ở đây đã có dấu vết của thời cơ khí hiện đại, báo hiệu chia ly không còn là tiếng ngựa hí, tiếng nhạc reo, tiếng nước róc rách và tiếng gió phần phật buồm thuyền… mà là tiếng còi tàu tu tu như hồi chuông nghiệt ngã của số phận, cắt đứt tình duyên đôi lứa.

Anh Khóa ơi! Còi tu tu tàu sắp kéo cầu,

Đường trần em sắp sửa gánh sầu từ đây

Trông anh, em chẳng nỡ rời tay,

Nỗi riêng em dặn câu này, anh chớ có quên.

Anh Khóa ơi! Người ta lắm bạc nhiều tiền,

Anh em ta phận kém duyên hèn mới phải long đong

Một mình anh nay Bắc lại mai Đông

Lấy ai trò chuyện cho khuây lòng lúc sớm khuya.

Anh Khóa ơi! Chữ tương tư vai gánh nặng nề,

Giang hồ anh sớm liệu về kẻo nữa em mong.

Tính toan sao cho phỉ chí tang bồng;

Ở nhà em cũng dốc một lòng giữ phận thuyền quyên…

Người làm bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàuthì tôi không lạ, đó là nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, người làng Quang Xán, huyện Mỹ Lộc, ngoại thành Nam Định. Thân sinh Á Nam, cụ Cử nhân Trần Văn Hoán là chỗ thanh khí với Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San và Trần Tế Xương. Điều tôi băn khoăn: Anh Khóa này là ai mà hoài bão chí lớn lao muốn làm sao cho “phỉ chí tang bồng”.

Đến năm 1984, đọc chú thích cuốn Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải(Nxb Văn học) thông qua lời tác giả kể về xuất xứ bài thơ, tôi được biết: “Khoảng năm hai mươi tuổi, tác giả thường xuyên giao du với các nhà chí sĩ, những bậc lão thành, cũng như những người thiếu tráng, ngày đêm mài miệt ngâm vịnh văn chương, nghiên cứu các học thuyết đông tây kim cổ. Lúc đó trong đám anh em, có nhiều người vì mang lòng phẫn uất với bọn thực dân Pháp, trốn tránh đi nước ngoài để tìm phương kế cứu giang sơn Tổ quốc. Trong thời gian đó, tác giả cũng đã có phen lần ra tận biên thùy ở miền Móng Cái, mong lân la sang bên Trung Quốc để tìm kiếm bạn đồng tâm. Chẳng may công chuyện không thành, đành buồn bã quay về. Sau đó còn có nhiều phen lần theo các đường khác để đi (như vào Trung kỳ, Nam kỳ) song cũng đều thất vọng”. Tuy vậy trong đám bạn bè cùng chí hướng của ông, những người gặp được cơ hội len lỏi ra nước ngoài cũng không phải là ít. Vì thế, trong lúc tiễn đưa bạn hữu, tác giả đã chan chứa cảm xúc, viết ra bài hát trên để tả tấm lòng tha thiết của mình. Bài hát rất phổ biến trong Nam, ngoài Bắc hồi đó.

Tập thơ đầu có in bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàu,tuy đã ngụy trang như lấy nhan đề Duyên nợ phù sinh, phụ đề chữ Hán Kim sinh lụy, bài mở đầu Hồn lụy, ký tên Lụy Giả, cho giống với những cuốn sách đang lưu hành; nhưng dụng ý của Á Nam mượn thơ văn để khích động lòng yêu nước, gây chí tự lập, nghĩa hợp quần đã được người đương thời nhận ra. Nguyễn Văn Vĩnh đứng trên lập trường thân Pháp, viết một bài trên tạp chí Annam Nouveau,dùng giọng úp mở quanh co, kết tội Trần Tuấn Khải quá thiên về tinh thần quốc gia mà quên nói đến tình cảm thông thường của con người.

Tạp chí Nam Phong(tháng 5 - 1921) viết: “Đã lâu nay, các văn thơ xuất bản không được máy quyển hay, nay mới lại được đọc tập Duyên nợ phù sinhcủa ông Trần Tuấn Khải này thật là văn chương có giá trị… Nhiều bài hát thật là ha, như bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàuvà thứu nhất là bài Gắnh nước đêmlời giản dị mà ý tứ sâu xa biết bao nhiêu (…). Cả tập thơ chỉ được một bài này, cũng đáng khen, huống còn nhiều bài hay nữa”. Hoàng Ngọc Phách viết trong báo Trung Bắc Tân, văn số 1.282: “Tự bảo mình rằng lúc thơ phú tàn canh, mà còn có thơ này, lời lẽ thanh thoát, ý tứ dồi dào, cảm hoài những việc vẩn vơ mà cao thượng”… “Có người bảo văn ông có nhiều vẻ buồn, ký giả cũng tưởng như vậy”… “Nếu vì quốc văn, vì lý luận, hai vai thân thế, một gánh giang san, cuộc văn chương dẫu đến khi tàn, mà ngọn bút quan hoài biết bao giờ cho ráo mực” mà ông buồn, thì cái buồn ấy cũng có vẻ cao thượng”. Tú tài Nam Định Nguyễn Xuân Xứng viết: “… Quyển Duyên nợ phù sinh… văn chương mực thước, lời lẽ thâm trầm, chẳng khác chi một mảnh gương trong soi suốt nhân tình thế thái, so với bốn chữ nhan đề quả là thích hợp…

Một quyển văn thư mấy đoạn tình,

Kiếp người dan díu nợ phù sinh.

Non sông dấu cũ văn chương mới;

Mưa gió năm châu luống giật mình

Những lời khen ngợi trên đây còn mang tính chất bóng gió, nhưng đến Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận(1933) đã nói ro ràng hơn: “Ông Khải thường hay cảm về thời thế, mà nặng lòng với đất nước non sông, nên ôgn thường hay ngâm vịnh về lịch sử để dựa theo mà khóc cảnh tang thương…

Coi lịch sử gương kia còn tỏ, mở dư đồ đất nọ chưa tan.

Giang san sau này vẫn giang san,

Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?

Vì ai? Độc giả cũng dư biết vì ai. Song lịch sử đã đầy những sự vẻ vang quá khứ, mà hiện nay trông lại, chỉ thấy rặt những cảnh thảm mục thương tâm, thì những nhà chí sĩ lo đời, há được bình an tọa thị?

Bởi vậy mà anh Khóa mới lên tiếng hô hào, rắp mong được nhiều người hưởng ứng”.

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại(1941) cũng viết: “Có lẽ ông (Trần Tuấn Khải) là một thi sĩ mà cách đây không lâu các bài ca đã được nhiều người hát nhất. Ở Bắc kỳ, hai bài Anh Khóacủa ông, khôgn đâu là không biết, nhất là trong xóm bình khang, các đào nương lại thường hay hát lắm. Hai bài Anh Khóaphổ thông đến nỗi người ta đã lấy cả vào đĩa hát ở miệng những tay danh ca bậc nhất.

Những việc ấy đủ chứng ra rằng hai bài Anh Khóađã hợp với tính tình của nhiều người, người học thức cũng như người ít học. Mà không cứ hai bài Anh Khóa, những thi ca của Trần Tuấn Khải hầu hết đều nhẹ nhàng, dễ hiểu, đều có tính cách phổ thông như thế cả”.

Trong sách không thấy nói đến việc bài Anh Khóasở dĩ được hưởng ứng nhiệt liệt vì nó đáp ứng đúng tình cảm yêu nước của quần chúng. Nhưng sau này, khi đọc hồi ký Những năm tháng ấy(1987), được Vũ Ngọc Phan cho biết: “Bài Anh Khóacủa Trần Tuấn Khải xẩm họ hát ơi ới khắp nơi thì không sao, nhưng đưa vào sách ( Nhà văn hiện đại- HA) thì bị xóa liền”, chúng ta mới hiểu đoạn nói về nội dung yêu nước của Anh Khóa đã bị kiểm duyệt thực dân xóa bỏ.

Sau loạt bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàu, Gửi thư cho anh Khóa, Mong anh Khóa… Á Nam đã viết những bài có nội dung yêun ước, cụ thể, mãnh liệt hơn, như Văn tế Đức Trần Hưng Đạo(in trong tập thơ Với sơn hà 1(1936) với lời kêu gọi hùng hồn: “Hai mấy triệu nào con nào cháu, mài tim gan trông nếp cũ cùng theo. Muôn nghìn năm nào gái nào trai, luyện vây cánh sấn đường mây thẳng trỏ”, nghe như Văn tế Phan Châu Trinhcủa Phan Bội Châu.

Cuốn Hồn tự lậptập II (1928) do Á Nam viết bằng văn xuôi, nội dung thuật chuyện ba nhà nữ cách mạng Nga, do Nhà in Nữ lưu thư quán, Gò Công, xuất bản.

Còn bài viết đề cuốn Hồn tự lập IIthì lại phảng phất giọng văn của Lương Khải Siêu, người cha tinh thần của Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc. Trong cuốn Hồn tự lập I(1927), Á Nam nêu tấm gương đấu tranh của nhà yêu nước Ấn Độ Gandhi, chống thực dân Anh. Chủ nghĩa yêu nước của Á Nam đã thấm nhuần tinh thần dân chủ và quốc tế. Sở dĩ như vậy vì Á Nam không những đã đọc tân thư của Trung Quốc mà còn đọc cả sách chữ Pháp, ông đã dịch nhiều bài thơ của Alfred de Musset, Victor Hugo… sang tiếng Việt.

Sau khi thực dân Pháp bắt giam và cấm lưu hành tác phẩm của Á Nam, không nhà xuất bản nào dám in sách của ông nữa. Lúc toàn quốc kháng chiến tháng 12 - 1946 nổ ra ở Hà Nội, ông mang được một rương đựng đầy bản thảo thơ văn cùng gia đình đi tản cư ba bốn chỗ, sau mới về ngụ ở làng Sơn Lộ, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, thì rủi bị giặc Pháp tới nơi đốt phá tan thành không còn sót được một phần mảnh chữ nào. Mãi sau này ông mới nhớ lại được một số bài đưa in trong cuốn Với sơn hà tập II(1949).

Lúc còn ở Bắc, ông đã theo kháng chiến ở Bưng Vân Đình chợ Đại một thời gian. Nhưng kỳ diệu thay sức sống bất khuất của thành phố Sài Gòn, chính ở đây, Á Nam đã tìm được chỗ xứng đáng trong cuộc chiến đấu của nhân dân thành phố chống đế quốc Mỹ và tay sai. Ông đã tiếp xúc với nhiều hội đoàn dân chủ nhất là phong trào Tự quyết và thường đến họp với tổ chức này từ năm 1964.

Năm 1966, Trần Tuấn Khải được bầu làm chủ tịch danh dự của Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc cùng với giáo sư Dương Minh Thới. Lời phát biểu mạnh mẽ của ông trong lễ ra mắt ngay trước “Hạ viện” Sài Gòn, được mọi người hết sức hoan nghênh.

Năm 1967, Trần Quang Khải được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp hội Văn học nghệ thuật, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Văn hóa. Năm 1972, có lần ông được đă vào vùng giải phóng Long An họp hội nghị suốt một ngày.

Sau tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968) Trần Tuấn Khải làm việc dịch thuật cổ văn ở Phú Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, nhưng ông đã dùng phòng làm việc của ông ở thư viện Quốcgia làm nơi gặp gỡ của anh em công tác thành. Những năm 1968 - 1970, cán bộ chỉ đạo hoạt động nội thành bao giờ cũng nêu tên ông đầu tiên trên các bản kiến nghị đấu tranh, như phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân sinh và dân chủ. Trong bài Mừng xuân Ất Mão (1975)nhà thơ đã linh cảm sắp dến ngày giải phóng.

Sau 30 - 4 - 1975, Trần Tuấn Khải làm cố vấn Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Để cảm ơn Cách mạng mang lại cuộc đởi đời nhà thơ đã viết: Hơn tám mươi năm lộn kiếp đây, Tuổi đời lên một tính từ nay… Khi hai nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận từ miền Bắc vào Nam, đến nhà thăm Á Nam, hôm ấy cụ còn yếu mệt, đang nằm giường bệnh, nghe anh Huy Cận cười hỏi: “Nay anh Khóa đã về, bà Khóa đã hả lòng chưa?”, thì cụ Á Nam bất giác tươi tỉnh, sau khi tiễn bạn ra về, cụ đã viết ngay bài Mừng anh Khóa về(1975).

Ta nghĩ mình ta cũng nực cười,

Sống trong thanh bạch vẫn yên vui.

Lấy câu trung nghãi khuyên con cháu,

Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi.

Nghĩa cả giang sơn ghi đáy dạ,

Chuyên đời danh lợi gác ngoài tai.

Tám mươi tám tuổi xuân còn mãi,

Còn vững lòng son chẳng đổi đời.

Gần một thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà một áng văn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.