150 năm ngày mở đầu kháng chiến chống Pháp tại Đà Nẵng
Với lực lượng quân số nói trên, tất cả do Phó đề đốc Rigault de Genouilly chỉ huy, chúng tiến vào cửa biển Đà Nẵng của nước ta, bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược.
Đối với triều đình Huế, ý thức được tầm quan trọng của cửa biển Đà Nẵng trong việc phòng thủ, nên trước đó, vào tháng 5 năm 1857, vua Tự Đức đã cử Hộ Bộ thượng thư Tôn Thất Hiệp vào thực địa để thanh tra việc bố phòng. Khi về, Tôn Thất Hiệp tâu:
“Cửa ấy thật là chỗ hệ trọng, mấy khi đặt thêm các đồn nhứt, nhị, tam, tứ, xin nên giữ nguyên như cũ. Phía bắc thành Điện Hải, ngoài lũy cát, cát biển bồi ngầm dưới mặt nước, gần đến giữa vũng, xin đắp thêm một pháo đài tại chỗ ấy, để khi bắn dùng cho thong thả, mà pháo đài liên tiếp với Điện Hải Thành, nên khi hữu sự cũng dễ giúp nhau…” (theo Quốc triều chính biên toát yếu).
Vua Tự Đức chuẩn y mọi điều, duy chỉ việc đặt pháo đài, vì khó khăn nền chưa thể làm gấp được.
Bảo vệ cảng Đà Nẵng lúc đó có 10 chiếc tàu chiến, số tàu này được trang bị từ thời vua Minh Mạng (gồm 5 tàu lớn và 5 tàu nhỏ). Binh lính thì có hai ban lính Long Võ và Hùng Nhuệ chia nhau canh phòng các đồn lũy, số còn lại, triều đình cho về quê làm ăn. Lúc có biến, mới kêu gọi “biến binh”, tức huy động số quân trù bị đó ra để chống giặc. Vũ khí đạn dược thì có một số súng điều thương, súng thần công kiểu cổ”…
Đoàn quân xâm lược Pháp – Tây, sau thời gian hải hành trên biển, đến ngày 31-8-1858, chúng tới cửa biển Đà Nẵng. Tại đó, binh sĩ Việt Nam canh gác trên các hải đài phát hiện và ra hiệu hỏi tàu nước nào đến? Chúng không trả lời. Hàng chục chiến thuyền của ta đóng dài trên mặt biển như sẵn sàng đợi lệnh. Không lâu sau đó, thủy binh Việt Nam nỗ lực chèo ra khơi, chĩa thẳng súng vào tàu địch. Được lệnh, hàng loạt khẩu đại pháo của ta ầm ầm nổ vang. Quân địch trên các chiến thuyền đồng loạt nổ súng chống trả. Sau gần hai giờ giao chiến, hầu hết các tàu chiến của ta bị chìm xuống biển.
Sau khi đánh được đội thủy binh bảo vệ cảng của ta; bọn chúng tiến thẳng vào bờ. Các pháo đài của ta tiếp tục nhắm vào các tàu chiến địch để nhả đạn, tiếc rằng tầm súng của quân ta không xa và không đến đích. Vì thế, quân địch vẫn tiếp tục bắn phá các pháo đài để tiến vào. Khi đến nơi, chúng điều động hai chiếc pháo hạm, một chiếc thông báo hạm của Tây Ban Nha tiến tới bỏ neo ở cửa sông Hàn. (Theo Nam bộ chiến sử, sđd, tr. 22).
Ngày 1-9-1858, Pháp gửi tối hậu thư hạn trong 2 giờ, phía Việt Nam phải triệt binh, trao tất cả thành trì cho chúng. Quân ta không trả lời, Rigault de Genouilly ra lệnh tấn công. Đầu tiên là nhắm thẳng vào hai đồn Nại Hiên đông (đồn Đông) và Điện Hải (đồn Tây). Chúng áp dụng chiến thuật “tiền pháp hậu xung”: chia quân ra làm hai bộ phận; bộ phận thứ nhất gồm ba tàu chiến tập trung hỏa lực để bắn vào các đồn ở Sơn Trà. Dưới làn đạn yểm trợ của bộ phận thứ nhất, bộ phận thứ hai nhanh chóng tiến đến gần cửa sông Hàn bắn xối xả vào hai đồn trên… Đến 10 giờ, chiếc quân vận hạm Durance chở lính Tây Ban Nha kéo quân lên đổ bộ chiếm đồn. Sau khi chiếm được hai đồn trên, chúng triển khai tấn công thành An Hải. Cùng lúc đó, tàu Mitraille, Fusee… đem quân đi bắn phá vào các đồn khác của ta ở dọc cửa sông.
Đến chiều, quân Pháp đã đổ bộ chiếm được hầu hết các thành lũy và làm chủ tình thế ở cảng Đà Nẵng.
Tại Huế, khi được tin liên quân Pháp – Tây tấn công cảng Đà Nẵng và tình trạng ở đây đang lâm nguy, vua Tự Đức ra lệnh cho đặc phái viên là Đào Trí vào để hiệp sức với Tổng đốc Nam Ngãi là Trần Hoằng trong việc tổ chức bố phòng và chống trả. Nhưng khi Đào Trí kịp đến nơi thì hai đồn và thành trên đã mất. Triều đình lại cử thêm Đô thống Lê Đình Lý làm thống đốc; tham tri Bộ Hộ Phan Khắc Thận làm tham tán; mang 2.000 cấm binh vào Đà Nẵng để cứu vãn tình thế. (Sách Quốc triều chính biên toát yếuchép:
“Tháng 7, có 12 chiếc tàu đại Pháp vào cửa Hàn, bắn phá các bảo đài. Việc ấy tâu lên, ngài (vua Tự Đức – TTT) sai Đào Trí hội đồng với quan Tổng đốc Nam Ngãi là Trần Hoằng cự đánh. (Rồi sau Trần Hoằng nhơn Hải Thành bị hãm, phải cách hiệu. Đào Trí được quyền Tổng đốc).
Quân đại Pháp hãm 2 thành An Hải và Điện Hải. Ngài sai Hữu quân Lê Đình Lý làm Thống đốc đem cấm binh 2.000 cự đánh. (Từ khi 2 thành ấy thất thủ, lòng ngài nóng nảy lắm, tiết thứ nghiêm dụ; hoặc khiến lựa chỗ đóng đồn, hoặc khiến lựa thế quyết đánh, hoặc khiến nhơn ban đêm vây đánh, hoặc quở trách các tướng dùng dằng. Ngài chỉ bảo, phương lược cũng đã nhiều lần…” (Sđd, tr. 416).
(Đề cập về giai đoạn này, sách Lịch sử Việt Nam (1858 – cuối XIX). Q.3, T.1, Ph.1 do hai tác giả Hoàng Văn Lân và Ngô Thị Chính biên soạn, đã viết chưa thật chính xác, cụ thể như sau:
“Chiều tối 31-8-1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã dàn trận ở trước Đà Nẵng. Nhưng quan trấn thủ của triều đình Huế ở Đà Nẵng chỉ huy 2.000 quân là Trần Hoàng vẫn cứ án binh bất động… Quan quân triều đình lâu nay vốn chỉ thích nghĩ tới việc chống nông dân khởi nghĩa hơn là chống giặc, không chủ động tấn công giặc mà cứ án binh bất động, trong khi giặc đã dàn trận xong từ hôm trước và chờ mãi đến khi chúng tấn công thì mới bị động bắn trả lại…”!! (Sđd, tr. 31).
Theo Quốc triều chính biên toát yếu, khi quân Pháp bắt đầu tấn công Đà Nẵng, thì Tổng đốc Trần Hoằng chưa nhận được số quân 2.000 quân (lính cấm binh) từ Huế chuyển vào; số quân này được Thống đốc Lê Đình Lý mang vào, sau khi hai thành An Hải và Điện Hải đã thất thủ. Theo sách Nambộ chiến sử, tác giả Nguyễn Bảo Hóa căn cứ vào nhiều tài liệu của người Pháp đã thuật lại rằng: khi binh thuyền của giặc đến Đà Nẵng, thủy binh của ta dù vũ khí thô sơ nhưng đã đồng loạt khai hỏa, nổ súng vang rền để cự địch. Sau hai giờ thủy chiến, quân ta bị thua.
Sau khi đổ bộ chiếm thành, liên quân Pháp – Tây Ban Nha không dám mở rộng phạm vi chiếm đóng, chúng chỉ thực hiện các cuộc tuần chiến nhỏ… Trong một lần tuần chiến vào làng Mỹ Thị, chúng phá ụ đất, hủy hàng rào bao bọc ngoài làng. Sau đó, chúng tiến sang làng Cẩm Lệ. Tại đây, Thống đốc Lê Đình Lý đã đem quân đánh trả lịch liệt. Sau đó ông bị trúng đạn, mấy hôm sau thì mất.
Trước tình thế đó, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương đang làm Kinh Lược Sứ ở Nam kỳ ra sung chức Tổng đốc Nam Ngãi; Tổng đốc Định Biên là Phạm Thế Hiển được cử làm tham tán, Tống Phúc Minh làm Đề đốc; cách chức Tổng đốc Trần Hoàng và cử Đào Trí làm quyền Tổng đốc…
![]() |
| Quang cảnh pháo đài phía tây, sau trận pháo kích của quân Pháp năm 1858. |
Tháng 10 – 1858, một hạm đội Pháp do Pablo Lioro chỉ huy cùng với 40 lính Tây Ban Nha ngược sông Hàn, tiến vào đất liền, tiếp tục bắn phá các đồn lũy của ta ở hai bên bờ sông.
Tháng 11- 1858, quân Tây Ban Nha bất thần tấn công hai đồng Hỏa Khê và Nại Hiên, Hiệp quản Nguyễn Triều và Nguyễn An là tướng bảo vệ đồn kháng cự rất mãnh liệt, nhưng sau đó cả hai đều tử trận vì quân cứu viện của Tống Phúc Minh không đến kịp… Nhận được tin báo, vua Tự Đức phải thốt lên:
“Quân đã có, cứu viện lại không có, một quan Tướng đã khó tìm, huống chi chết đến hai…” ( Quốc triều chính biên toát yếu). Vì thế, Đề đốc Tống Phúc Minh và các thuộc hạ đều bị giáng phạt. Các binh linh tử trận đều được tặng cấp.
Khi Nguyễn Tri Phương ra đến Đà Nẵng, ông đã cho làm lại các công sự, sửa sang các đồn bót, đặt lại các vọng lâu và xích hậu để ứng cứu cho nhau. Vua Tự Đức sai ông vẽ địa đồ và bay mưu kế dâng lên. Sau đó, ông đã gửi sớ về triều tâu rằng:
“Bên họ chiến thì lợi, bên ta thủ thì hơn, bây giờ nên giữ cho vững để làm cách cự chiến, đắp xong đồn lũy rồi dần dần mới xông tới”.
Vua Tự Đức phán: “Bên đánh không hình, họ dễ cử động mà ta khó đo lường. Bên giữ có hình, họ dễ trông thấy mà mình khó chu đáo. Vậy việc thủ e có 6 điều không tiện:
1- Mọi hoạt động của ta không được bảo mật.
2- Vũ khí của ta ít hiệu năng.
3- Tình báo của ta ít xác thực.
4- Đồn ải không vững chắc.
5- Quân sĩ tinh thần không vững, tướng lệnh không nghiêm.
6. Quân tán thì bị yếu thế…” ( Quốc triều chính biên toát yếu).
Tuy nói thế, nhưng vua Tự Đức vẫn để cho Nguyễn Tri Phương tùy cơ định liệu mọi việc bố phòng.
Cuối năm 1858, Pháp chia quân đến đánh đồn Thạc Giảng và Nại Hiên, quân ta do Đào Trí chỉ huy chia quân ra đánh, quân Pháp phải bỏ chạy. Việc ấy tâu lên, vua Tự Đức cho rằng:
“Từ trước đến giờ, chưa thấy dùng mưu gì lạ. Từ nay về sau, nếu có giao chiến, phải chia lính mạnh phục các nẻo, để triệt đường quân họ trở lui…” (Quốc triều chính biên toát yếu).
Cũng trong thời gian đó, Rigault de Genoully được thăng Đề đốc. Vì không thể tiến công đánh chiếm Đà Nẵng do vấp phải sự chống cự quyết liệt của nhân dân Quảng Nam , nên y dự định đem quân ra tiến đánh Huế, nhưng kế hoạch đó đã không thực hiện được. Phần vì không đủ quân số, thuyền bè. Mặt khác, do không nắm được tình hình. Nhưng quan trọng hơn cả là sau 5 tháng ở Đà Nẵng, quân Pháp và Tây Ban Nha đã lâm vào tình trạng khốn đốn vì không hợp thủy thổ và khí hậu; điều đó đã ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của binh lính. Do các làng mạc nhà cửa đều đã bị phá sạch, dân chúng đã di tản đi nơi khác, nên quân lính phải ở trong các lều vải một cách tạm bợ. Số khác vào làng nhặt nhạnh các mảnh vụn để dựng tạm các chòi nhỏ làm nơi trú ngụ… Thời gian ở tại đây, chúng đã mắc nhiều chứng bệnh như kiết lỵ, sốt rét ngã nước; nguy hiểm nhất là bị dịch tả. Trong vòng một tháng, quân sĩ của chúng chết vì thổ tả cả trăm người… Quân trang, quân dụng và tiền bạc thiếu thốn, vì trước đó, nghe lời giám mục Pellerin hứa rằng, khi quân Pháp đổ bộ, ông ta sẽ vận động giáo dân tiếp tay hưởng ứng, nhưng điều đó đã không xảy ra…
Trước tình thế bất lợi ở Đà Nẵng, đầu năm 1859 Rigault de Genoully và động bọn quyết định tổ chức một cuộc hành quân khác: xua quân vào chiếm đóng Nam kỳ của nước ta, mở đầu một âm mưu mới trong kế hoạch xâm lược của chúng.
_________
Tài liệu tham khảo:
- Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb. Thuận Hóa, 1998.
- Kỷ niệm 100 năm Pháp chiếm Nam kỳ, nhiều tác giả, Nxb. Trình bày, Sài Gòn 1967.
- Đại Nam Quốc lược sử, Alfred Schreiner, Saigon, 1905.
- Tạp chí Xưa & Nay, Hội KHLSVN, số 54B – 1998.
- Hoàng Văn Lân – Ngô Thị Chính, Lịch sử Việt Nam (1858 – cuối XIX); Q3; T1; Ph1; Nxb Giáo dục, 1979.
- Nguyễn Bảo Hóa Nambộ chiến sử, Lửa sông xuất bản, 1947.









