Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 30/01/2013 21:34 (GMT+7)

Yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo khoa học Việt Nam

“Sáng tạo” là một khái niệm tương đối mới. Không biết hai chữ “sáng tạo” trong tiếng Việt xuất hiện từ lúc nào, nhưng chữ created xuất hiện trong Từ điển Oxford từ khoảng năm 1393, và mãi đến năm 1875 thì có thêm từ creativity mà chúng ta hiểu như là sáng tạo. Tuy nhiên, thời đó, chữ creativity dùng để chỉ sự tưởng tượng trong văn thơ. Vào cuối thập niên 1950s, một chuyên gia tâm lí định nghĩa sáng tạo với nghĩa hẹp là những hoạt động sáng chế, thiết kế, và xếp đặt sự việc.

Ngày nay, trong thế giới khoa học, sáng tạo được định nghĩa là những tri thức và kĩ năng mới, chưa từng được biết đến trước đây, gây ngạc nhiên và có ích. Khả năng sáng tạo có thể đánh giá qua nhiều thước đo như số bài báo khoa học, bằng sáng chế, và áp dụng ý tưởng mới vào thực tế.

Khả năng sáng tạo đang trở thành vấn đề thời sự.  Gần đây, một số nhà bình luận thời sự và khoa học cho rằng khả năng sáng tạo của Việt Nam đang tụt hậu.  Dữ liệu của Tổ chức sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization – WIPO)  cho thấy năm 2008 Việt Nam xếp hạng 65/153 nước về sáng tạo, năm 2012 thì tụt xuống hạng 76/141.  Trong cùng thời gian, các nước láng giềng như Thái Lan và Mã Lai thì đang trên đà tăng thứ hạng về sáng tạo. Trước đây, người viết bài này cũng đã phân tích và cho thấy số bằng sáng chế của Việt Nam còn rất thấp, có năm chẳng có bằng sáng chế nào được đăng kí. Có người gọi sự tụt hạng của Việt Nam là “chết lâm sàng”.

Thực tế cho thấy không chỉ số bằng sáng chế, mà số bài báo khoa học từ Việt Nam cũng còn khá khiêm tốn.  Trong 5 năm qua (2008-2012), Việt Nam công bố được 6369 bài báo khoa học; con số này bằng ~24% của Thái Lan (26114 bài), 22% của Mã Lai (28509). Trong cùng thời gian, ĐH Chulalongkorn công bố 5232 bài, ĐH Mahidol của Thái Lan công bố 5111 bài, ĐH Malaya của Malaysia 7083 bài.  Số bài báo khoa học của Việt Nam chỉ xấp xỉ số bài báo của một đại học hàng đầu của Thái Lan và Malaysia.

Những con số trên chưa nói đến một thực trạng đáng lo ngại khác và đó là vấn đề lệ thuộc nước ngoài. Phần lớn (70%) những công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam là do hợp tác với nước ngoài. Có lĩnh vực như y khoa, tỉ lệ hợp tác với nước ngoài hiện nay khoảng 80%, có năm lên đến 90%. Hợp tác khoa học là điều cần thiết và cần khuyến khích, nhưng nếu 80% công trình nghiên cứu là do hợp tác thì có thể xem đó là một phản ảnh về nội lực yếu kém, hay nói cách khác, đó là một nền khoa học có nguy cơ bị lệ thuộc.

 

Nhiều trung tâm ở Việt Nam không có chính sách đãi ngộ sáng tạo và nghiên cứu khoa học, nên nhà khoa học không có động cơ để sáng tạo.

Bài báo khoa học và số bằng sáng chế là những thước đo về khả năng sáng tạo. Do đó, những dữ liệu thực tế trên đây cho thấy khả năng sáng tạo của Việt Nam đang suy giảm? Tôi không nghĩ vậy; khả năng sáng tạo của người Việt chẳng kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới, nhưng vấn đề là các yếu tố mang tính hệ thống và cá nhân đã là những rào cản để phát huy tính sáng tạo của người Việt.  Đã có rất nhiều thảo luận chung quanh câu hỏi tại sao chúng ta đang tụt hạng.  Nhưng hình như chưa ai đặt câu hỏi trực tiếp là yếu tố nào ảnh hưởng đến tính sáng tạo.  Các chuyên gia xã hội học phân biệt hai nhóm yếu tố: yếu tố mang tính tổ chức, và yếu tố cá nhân.  Những yếu tố tổ chức sau đây có ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo:

Thứ nhất là cởi mở với những ý tưởng mới.Đây là yếu tố được đề cập nhiều nhất khi đề cập đến sáng tạo. Thông thường và cũng là tâm lí chung của đám đông, bất cứ một ý tưởng mới nào cũng được nhìn với sự dè dặt, thậm chí bị bác bỏ ngay từ đầu.  Đối với những nhà khoa học trẻ, khi ý tưởng bị bác bỏ cũng là thời điểm ý tưởng đó bị tử vong, vì nhà khoa học cảm thấy ý tưởng của mình không được ủng hộ.  Tuy nhiên, những tổ chức sẵn sàng chào đón cái mới, sẵn sàng chấp nhận những “con cừu đen” trong nhóm nghiên cứu khoa học, hay khuyến khích cái mới, thường là những tổ chức thành công trong việc sáng tạo.

Thứ hai là áp lực. Các nhà tâm lí thường cho biết rằng khi họ tiếp xúc với những cá nhân sáng tạo, điều được đề cập nhiều nhất là những trung tâm hay lab nghiên cứu có cơ chế tạo áp lực thì khả năng sáng tạo hay “làm một cái gì đó” thường gia tăng.  Áp lực ở đây phải hiểu là những qui định về thành quả nghiên cứu, chẳng hạn như qui định mỗi nhà nghiên cứu hay giảng viên phải công bố kết quả nghiên cứu của họ trên các tập san quốc tế.  Trong môi trường áp lực như thế, nhà khoa học sẽ cảm thấy bị thôi thúc để làm ra cái mới.

Thứ ba là tự do chọn đề tài và thay đổi hướng nghiên cứu.Qui trình sáng tạo bao gồm việc lựa chọn vấn đề, phương pháp, đối tác và nguồn tri thức. Sáng tạo đòi hỏi một môi trường tự do học thuật (academic freedom). Trong môi trường đó, nhà khoa học chẳng những có sự tự do lựa chọn vấn đề để theo đuổi, mà còn có tự do để thay đổi định hướng nghiên cứu khi cần thiết.  Đề tài nghiên cứu tốt có thể xuất phát từ nhà khoa học, nhưng thường thường khởi phát từ người lãnh đạo khoa học.  Người lãnh đạo khoa học có thực tài và kinh nghiệm là người có viễn kiến và khả năng nhận ra những vấn đề cần theo đuổi để có xác suất thành công cao.  

Thứ tư là khuyến khích và đãi ngộ cá nhân sáng tạo.Nhiều người cho rằng chính sách đãi ngộ là một yếu tố rất quan trọng cho sáng tạo.  Những hình thức khuyến khích và đãi ngộ có thể là đề bạt, giải thưởng, phần thưởng cá nhân, tự do dự hội nghị quốc tế, v.v. Trung Quốc đã áp dụng chính sách thưởng cho nghiên cứu khoa học, và họ đã thành công gia tăng số ấn phẩm khoa học cũng như số bằng sáng chế trong thời gian trên dưới 20 năm qua.

Ngoài những yếu tố thuận trên, một số yếu tố bất lợi cho sáng tạo cũng được đề cập đến. Các yếu tố sau đây được xem là kiềm hãm tính sáng tạo. Quá chuyên biệt hoá giữa các ngành khoa học là một yếu tố bất lợi cho sáng tạo. Sáng tạo thường xảy ra trong môi trường tương tác giữa các nhóm khoa học.  Những trung tâm quá chuyên biệt về một vấn đề thường kém khả năng sáng tạo vì thiếu sự tương tác với các đồng nghiệp từ các chuyên ngành khác. Hành chính hoá là một biện pháp tuyệt vời nhất để làm nản lòng nhà khoa học và kiềm hãm sự sáng tạo.  Những trung tâm phân biệt giai tầng từ cao đến thấp, hay nặng về quản lí và hành chính cũng là những trung tâm kém sáng tạo.  

Nhìn qua những yếu tố trên và đối chiếu với hiện tình ở Việt Nam, có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học của Việt Nam bị tụt hậu. Về ý tưởng nghiên cứu, ngoại trừ một số ít có nghiên cứu có chất lượng cao, phần lớn những đề tài nghiên cứu thực hiện ở Việt Nam chỉ loanh quanh những ý tưởng cũ, những đề tài người khác đã làm (thậm chí làm rất lâu). Nghiên cứu sinh thì thiếu sự hướng dẫn của thầy cô, nên chỉ theo đuổi những đề tài ngắn hạn, tủn mủn, vụn vặt, khó có thể công bố quốc tế. 

Nhiều thầy cô cũng không dám theo đuổi những đề tài mới, một phần vì sợ cơ quan tài trợ không yểm trợ, một phần vì sợ hội đồng xét duyệt bác bỏ. Thật vậy, có khi sự kiềm hãm xảy ra ngay từ khâu duyệt đề cương nghiên cứu, mà trong đó hội đồng bình duyệt thường là những người hoặc không có kinh nghiệm chuyên ngành, hoặc không sẵn lòng chào đón các ý tưởng mới.Hệ quả là rất nhiều nghiên cứu của Việt Nam chỉ xoay quanh những đề tài cũ, hoặc những đề tài chẳng ai quan tâm, và do đó rất khó có cơ may xuất hiện trên những diễn đàn khoa học lớn.   

Các nhà khoa học Việt Nam cũng không có áp lực hay động cơ để nghiên cứu khoa học.  Ngoại trừ các viện chuyên nghiên cứu thì còn có áp lực chút ít, các đại học và bệnh viện gần như không gây áp lực cho các nhà khoa học phải làm nghiên cứu. Họ chỉ cần làm những đề tài vụn vặt hay làm “cho có” để đăng trên các tập san trong nước và có điểm cho việc phong chức danh giáo sư / phó giáo sư.  Đó có thể là một giải thích tại sao mỗi năm Việt Nam có hàng vạn bài báo khoa học tên các tập san trong nước, nhưng chỉ có khoảng 1500 trên các tập san quốc tế.  

Nhiều trung tâm ở Việt Nam không có chính sách đãi ngộ sáng tạo và nghiên cứu khoa học, nên nhà khoa học không có động cơ để sáng tạo. Có nhiều nhà khoa học công bố nghiên cứu trên tập san hàng đầu thế giới, mà lãnh đạo không hề hay biết hay có biết thì cũng dửng dưng như không có chuyện gì xảy ra!  Ngược lại, những hình thức “chiến sĩ thi đua” thực chất chỉ khuyến khích người ta làm những công trình nghiên cứu “me too” (bắt chước người khác) hay làm cho có làm, chứ không nhắm đến tính sáng tạo.  

Tính đố kị cố hữu của người Việt cũng là một rào cản lớn. Đồng nghiệp thay vì ủng hộ thì lại dèm pha và bôi nhọ những cá nhân có sáng kiến tốt. Những ai có sáng kiến gì mới thường bị mang nhãn hiệu “điên”, “khùng”, “mad”.  Lại có khi bị đồng nghiệp cho là “chơi nổi”. Trong môi trường như thế là tính sáng tạo đã tử vong ngay từ giai đoạn đầu.  

Chưa có bằng chứng gì để nói người Việt là một dân tộc có khả năng sáng tạo kém.  Người Việt cũng có khả năng làm nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiền phong như bất cứ ai. Người Việt cũng có khả năng sáng chế như bất cứ ai. Thực tế cho thấy người Việt Nam ở nước ngoài, hay nghiên cứu sinh Việt Nam ở nước ngoài, đã có những thành công có thể nói là ngoạn mục. Những trường hợp này cho thấy môi trường làm việc và tinh thần khoa học là một yếu tố rất quan trọng để tính sáng tạo được phát huy.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.