Vụ ám sát Kennedy 45 năm trước
Không thể biết một cách chính xác liệu Kennedy sẽ chế ngự cuộc khủng hoảng ở Việt Nam ra sao nếu như ông còn sống. Thế nhưng rõ ràng rằng ông đã tỏ ra cương quyết tránh để Việt Nam trở thành một cuộc chiến của người Mỹ và rằng ông đã mong rút quân hoàn toàn trong nhiệm kỳ thứ hai của mình.
Vào thời điểm Kennedy nhận chức năm 1961, sự dính líu của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á bị hạn chế với những chuyến vận chuyển vũ khí từ tàu biển và số lượng nhỏ các cố vấn quân sự. Song chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với một cuộc nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của cộng sản và ngay tại Mỹ, sức ép phải gửi quân trên bộ đang tích tụ dần.
Qua diễn biến tình hình của năm đó, các cố vấn của Kennedy đã trình lên ông cả nửa tá hoặc hơn các đề nghị Mỹ hoá cuộc chiến. Trong một bản phúc trình, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk và các cố vấn cao cấp biện luận rằng khó tránh khỏi “sự sụp đổ của Nam Việt Nam bằng bất cứ giải pháp ngắn hạn nào cho sự hiện diện của quân đội Mỹ trên một quy mô đáng kể”.
Các cố vấn của Kennedy nói với ông rằng để bảo vệ chính quyền Sài Gòn thì có thể phải cần tới 200.000 quân. McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia, tin rằng sự có mặt của quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. “Lào chưa bao giờ thật sự là của chúng ta sau năm 1954”, Bundy giải thích cho vị tổng thống đa nghi khi viện dẫn tới quốc gia Đông Nam Á này, nơi Kennedy từng chống lại sự can thiệp. “Việt Nam là [của chúng ta] và họ muốn thuộc về [chúng ta]”.
Kennedy không dễ chấp thuận. Trong một thời gian dài trước khi trở thành tổng thống, ông đã nói toạc ra tại Quốc hội rằng cần đề phòng kinh nghiệm thảm khốc của người Pháp tại Việt Nam , coi đó như là một lý do để Mỹ đừng bao giờ tham gia vào cuộc chếin trên bộ tại đó. Vào mùa hè năm 1961, ông nói ông đã chấp nhận kết luận của Tướng Douglas MacArthur, người đã khuyên nên phản đối một cuộc chiến trên bộ tại châu Á, khi nhấn mạnh rằng thậm chí một triệu bộ binh Mỹ cũng không đủ để thắng thế. Ông sẽ cung cấp viện trợ và huấn luyện quân sự cho chính quyền Sài Gòn, song ông sẽ không cho phép gửi lựclượng lục quân.
Qua ba năm nhiệm kỳ tổng thống của mình, Kennedy đôi lúc đã phải viện tới lối khoa trương hiếu triến về vấn đề Việt Nam . Ông cũng đã tăng thêm số cố vấn và nhân viên huấn luyện quân sự tại đây lên xấp xỉ 16.000 người. Thế nhưng cả McNamara và Bundy đều tin rằng Kennedy sẽ không Mỹ hoá cuộc chiến - thậm chí nếu như phải trả giá bằng chếin thắng của chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam .
Kennedy nhận thức rõ ràng sự bất lực của Mỹ trong việc chặn Đường mòn Hồ Chí Minh - những tuyến đường thâm nhập và tái cung cấp trang thiết bị quân sự từ Bắc Việt Nam - sẽ khiến Mỹ không thể đánhbại các cuộc nổi dậy. “Những con đường mòn này gắn liền với lý do dẫn tới sự thất bại”, Kennedy nói với một phụ tá vào mùa xuân năm 1962, “và là một lý lẽ đi liền với sự leo thang chiến tranh”. Kennedy nghi ngại khi ông không úp mở gì với viên phụ tá Nhà Trắng Michael Forrestal rằng tỉ lệ cá cược cho việc chiến thắng Viện Cộng là 100 ăn 1.
Đầu năm 1963, Kennedy nói với Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Mike Mansfield, người chống lại việc dính líu ngày càng nhiều của Mỹ tại Việt Nam, rằng ông sẽ bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự khỏi Nam Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình năm 1965. Kennedy cũng tiết lộ kế hoạch này với Roswell Gilpatric, thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Thế nhưng tấm thảm kịch ở Dallas vào tháng 11 năm 1963 đã thay đổi mọi chuyện.
Điều gì xảy ra sau cái chết của Kennedy là một câu chuyện đã trở thành quen thuộc. Lyndon B. Johnson kế tục vị trí tổng thống năm 1964, và vào tháng Tám năm đó ông đã lợi dụng một biến cố không rõ ràng trên Vịnh Bắc bộ để lấy được sự chuẩn thuận của Quốc hội không hạn chế các hành động quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, Johnson gửi 3.500 lính thuỷ đánh bộ đầu tiên tới Việt Nam . Trong vòng mấy tháng ông đã phê chuẩn việc triển khai 175.000 quân nữa.
Nếu như Kennedy còn sống, ông sẽ có được những lợi thế to lớn vào năm 1965. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Kennedy sẽ không thể bị tấn công trong các khu vực bầu cử. Ông sẽ không có cái chương trình nghị sự xây dựng những dự luật Xã hội Vĩ đại rõ lớn lao hào phóng của Johnson để cố gắng thuyết phục Quốc hội. Ông sẽ thiết lập một thông lệ kiên quyết loại bỏ những cố vấn của mình khi cần thiết. Và ông sẽ bước vào nhiệm kỳ bốn năm cuối của mình như là một nhà quán quân trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba , một thành tích về an ninh quốc gia có thể bất ngờ củng cố quyền kiểm soát của ông.
“Vì vậy ông không phải chứng tỏ bản thân mình ở Việt Nam ”, Bundy lập luận khi hồi tưởng lại quá khứ. “Ông ấy có thể giảm bớt được những mất mát cho đất nước lúc đó. Ông ấy có thể làm điều này qua việc từ chối gây ra một cuộc chiến tranh của người Mỹ”.
Việc Tổng thống Kennedy trong vai trò tổng chỉ huy quân đội đã không có được cơ hội để quyết định một số phận khác cho Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt nam đã làm sâu đậm thêm bi kịch của sự ra đi của ông và cũng nhấn mạnh thêm di sản quý báu của ông, vẫn hết sức liên quan đến 45 sau đó: gánh nặng trách nhiệm của vị tổng tư lệnh sớm dừng lại trên đôi vai của Tổng thống mới đắc cử Barrack Obama, rút cục sẽ xác định rõ sự khác nhau giữa chiến tranh và hoà bình.
Người dịch: Nguyễn Hữu Vinh
Gordon M. Goldstein là tác giả của cuốn “Những bài học trong Thảm hoạ: McGeorge Bundy và Con đường đi tới Chiến tranh tại Việt Nam ”, mới được Times Books xuất bản.
(*) Camelot: thành phố trong truyền thuyết của Vua Arthur, xứ sở hoà bình, tươi đẹp, mộ đạo, có học thức.








