Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 08/07/2009 20:47 (GMT+7)

Vụ ám sát Kennedy 45 năm trước

Không thể biết một cách chính xác liệu Kennedy sẽ chế ngự cuộc khủng hoảng ở Việt Nam ra sao nếu như ông còn sống. Thế nhưng rõ ràng rằng ông đã tỏ ra cương quyết tránh để Việt Nam trở thành một cuộc chiến của người Mỹ và rằng ông đã mong rút quân hoàn toàn trong nhiệm kỳ thứ hai của mình.

Vào thời điểm Kennedy nhận chức năm 1961, sự dính líu của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á bị hạn chế với những chuyến vận chuyển vũ khí từ tàu biển và số lượng nhỏ các cố vấn quân sự. Song chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với một cuộc nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của cộng sản và ngay tại Mỹ, sức ép phải gửi quân trên bộ đang tích tụ dần.

Qua diễn biến tình hình của năm đó, các cố vấn của Kennedy đã trình lên ông cả nửa tá hoặc hơn các đề nghị Mỹ hoá cuộc chiến. Trong một bản phúc trình, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk và các cố vấn cao cấp biện luận rằng khó tránh khỏi “sự sụp đổ của Nam Việt Nam bằng bất cứ giải pháp ngắn hạn nào cho sự hiện diện của quân đội Mỹ trên một quy mô đáng kể”.

Các cố vấn của Kennedy nói với ông rằng để bảo vệ chính quyền Sài Gòn thì có thể phải cần tới 200.000 quân. McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia, tin rằng sự có mặt của quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. “Lào chưa bao giờ thật sự là của chúng ta sau năm 1954”, Bundy giải thích cho vị tổng thống đa nghi khi viện dẫn tới quốc gia Đông Nam Á này, nơi Kennedy từng chống lại sự can thiệp. “Việt Nam là [của chúng ta] và họ muốn thuộc về [chúng ta]”.

Kennedy không dễ chấp thuận. Trong một thời gian dài trước khi trở thành tổng thống, ông đã nói toạc ra tại Quốc hội rằng cần đề phòng kinh nghiệm thảm khốc của người Pháp tại Việt Nam , coi đó như là một lý do để Mỹ đừng bao giờ tham gia vào cuộc chếin trên bộ tại đó. Vào mùa hè năm 1961, ông nói ông đã chấp nhận kết luận của Tướng Douglas MacArthur, người đã khuyên nên phản đối một cuộc chiến trên bộ tại châu Á, khi nhấn mạnh rằng thậm chí một triệu bộ binh Mỹ cũng không đủ để thắng thế. Ông sẽ cung cấp viện trợ và huấn luyện quân sự cho chính quyền Sài Gòn, song ông sẽ không cho phép gửi lựclượng lục quân.

Qua ba năm nhiệm kỳ tổng thống của mình, Kennedy đôi lúc đã phải viện tới lối khoa trương hiếu triến về vấn đề Việt Nam . Ông cũng đã tăng thêm số cố vấn và nhân viên huấn luyện quân sự tại đây lên xấp xỉ 16.000 người. Thế nhưng cả McNamara và Bundy đều tin rằng Kennedy sẽ không Mỹ hoá cuộc chiến - thậm chí nếu như phải trả giá bằng chếin thắng của chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam .

Kennedy nhận thức rõ ràng sự bất lực của Mỹ trong việc chặn Đường mòn Hồ Chí Minh - những tuyến đường thâm nhập và tái cung cấp trang thiết bị quân sự từ Bắc Việt Nam - sẽ khiến Mỹ không thể đánhbại các cuộc nổi dậy. “Những con đường mòn này gắn liền với lý do dẫn tới sự thất bại”, Kennedy nói với một phụ tá vào mùa xuân năm 1962, “và là một lý lẽ đi liền với sự leo thang chiến tranh”. Kennedy nghi ngại khi ông không úp mở gì với viên phụ tá Nhà Trắng Michael Forrestal rằng tỉ lệ cá cược cho việc chiến thắng Viện Cộng là 100 ăn 1.

Đầu năm 1963, Kennedy nói với Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Mike Mansfield, người chống lại việc dính líu ngày càng nhiều của Mỹ tại Việt Nam, rằng ông sẽ bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự khỏi Nam Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình năm 1965. Kennedy cũng tiết lộ kế hoạch này với Roswell Gilpatric, thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Thế nhưng tấm thảm kịch ở Dallas vào tháng 11 năm 1963 đã thay đổi mọi chuyện.

Điều gì xảy ra sau cái chết của Kennedy là một câu chuyện đã trở thành quen thuộc. Lyndon B. Johnson kế tục vị trí tổng thống năm 1964, và vào tháng Tám năm đó ông đã lợi dụng một biến cố không rõ ràng trên Vịnh Bắc bộ để lấy được sự chuẩn thuận của Quốc hội không hạn chế các hành động quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, Johnson gửi 3.500 lính thuỷ đánh bộ đầu tiên tới Việt Nam . Trong vòng mấy tháng ông đã phê chuẩn việc triển khai 175.000 quân nữa.

Nếu như Kennedy còn sống, ông sẽ có được những lợi thế to lớn vào năm 1965. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Kennedy sẽ không thể bị tấn công trong các khu vực bầu cử. Ông sẽ không có cái chương trình nghị sự xây dựng những dự luật Xã hội Vĩ đại rõ lớn lao hào phóng của Johnson để cố gắng thuyết phục Quốc hội. Ông sẽ thiết lập một thông lệ kiên quyết loại bỏ những cố vấn của mình khi cần thiết. Và ông sẽ bước vào nhiệm kỳ bốn năm cuối của mình như là một nhà quán quân trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba , một thành tích về an ninh quốc gia có thể bất ngờ củng cố quyền kiểm soát của ông.

“Vì vậy ông không phải chứng tỏ bản thân mình ở Việt Nam ”, Bundy lập luận khi hồi tưởng lại quá khứ. “Ông ấy có thể giảm bớt được những mất mát cho đất nước lúc đó. Ông ấy có thể làm điều này qua việc từ chối gây ra một cuộc chiến tranh của người Mỹ”.

Việc Tổng thống Kennedy trong vai trò tổng chỉ huy quân đội đã không có được cơ hội để quyết định một số phận khác cho Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt nam đã làm sâu đậm thêm bi kịch của sự ra đi của ông và cũng nhấn mạnh thêm di sản quý báu của ông, vẫn hết sức liên quan đến 45 sau đó: gánh nặng trách nhiệm của vị tổng tư lệnh sớm dừng lại trên đôi vai của Tổng thống mới đắc cử Barrack Obama, rút cục sẽ xác định rõ sự khác nhau giữa chiến tranh và hoà bình.

Người dịch: Nguyễn Hữu Vinh

Gordon M. Goldstein là tác giả của cuốn “Những bài học trong Thảm hoạ: McGeorge Bundy và Con đường đi tới Chiến tranh tại Việt Nam ”, mới được Times Books xuất bản.

(*) Camelot: thành phố trong truyền thuyết của Vua Arthur, xứ sở hoà bình, tươi đẹp, mộ đạo, có học thức.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.