Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/06/2014 19:58 (GMT+7)

Việt Nam hành động để ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

  Đây là bước tiến tất yếu khi mà, không chỉ Việt Nam mà cả thế giới cũng đã chứng kiến hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu diễn ra nhanh hơn dự báo của loài người.

Biến đổi khí hậu toàn cầu nhanh hơn dự báo

Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convention o­n Climate Change - UNFCCC), “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”.

Báo cáo năm 2013 của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (International o­n Climate Change -IPCC)nhận định:biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự báo.Báo cáo cũng chứng minh rằng, nhiệt độ bề mặt trái đất và mặt nước biển tăng lên hơn 0,48 0C so với thời kỳ 1961-1990;mực nước biển toàn cầu cũng dâng cao kỷ lục, đạt mức 3,2mm/năm, cao gấp đôi so với 1,6mm/năm của thế kỷ 20.

Song song với những diễn biến “nhanh hơn” đó là do những tác nhân của biến đối khí hậu cũng mạnh hơn. Cũng theo IPCC, lượng phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu (hơn 50 tỷ tấn CO 2tương đương) đã vượt mức dự báo cho năm 2030, lớn hơn 15% so với dự báo cho năm 2020, bỏ xa mốc kịch bản dự báo xấu nhất từng đưa ra.Trong khi đó,Tổ chức năng lượng thế giới (International Energy Agency -IEA)đưa ra các con số kỷ lục:phát thải khí nhà kính từ đốt nhiên liệu hoá thạch đã đạt mức kỷ lục (31,6 tỷ tấn) trong năm 2011, tăng 3,2% so với năm 2010.

Rõ ràng, biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại, sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Theo đó là các hệ lụy đến an ninh toàn cầu trên các mặt như: năng lượng, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại, đời sống, sức khỏe con người...

Điều đáng báo động là những tác động nghiêm trọng đó diễn ra trong bối cảnh loài người đã nỗ lực rất lớn để ứng phó với nó ngay từ khi no hiện hữu - gần 20 năm qua. Bắt đầu từ năm 1992, nguyên thủ quốc gia đên từ hơn 150 nước đã ký một Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, gọi tắt là UNFCCC. Từ đó, đã gần 20 năm qua, hằng năm, hàng trăm quốc gia lại tham gia Hội nghị của UNFCCC để bàn thảo, thống nhất các cam kết về nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là dường như nỗ lực của Liên hiệp quốc cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới phần nào đó bị định trệ vì những bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia ký kết các văn kiện UNFCCC.

Đầu tiên là sự bất phê chuẩn Nghị định thư Kyoto 1997 của Mỹ (nước có tổng lượng phát thải khí nhà kính lớn thứ 2 thế giới, sau Trung quốc) đã khiến Nghị định này bị đình trệ - kéo dài không hiệu lực trong suốt 8 năm sau đó. Mặc dù được ký kết – có hiệu lực từ năm 2008, nhưng cho đến thời điểm Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực – năm 2012, nó vẫn chưa được thực thi vì tiếp tục có một số bất đồng căn bản – sự nhìn nhau của các nước phát thải lớn, điển hình như Mỹ, Trung quốc và Ấn độ.

Trong khó khăn đó, nỗ lực của các nước được tiếp tục được ghi nhận, đạt được những bước tiến khả quan. Hội nghị gần đây tại Doha (Qatar) năm 2012, Nghị định thư Kyoto được tất cả các nước trên thế giới đồng thuận – gia hạn thêm đến năm 2020. Mặc dù Hội nghị này chưa có tính khả thi cao – khi chưa đưa rat được mức cam kết cụ thể của từng quốc gia, song nó cũng đã cho thấy về nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn càu của loài người.

Ảnh hưởng đến Việt Nam: không chỉ nhanh mà còn trên quy mô rộng và mức độ cao

Việt Nam xếp trong nhóm các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ hậu quả của biển đổi khí hậu vì có đường bờ biển dài, địa hình phức tạp và khí hậu nằm ở vùng nhiệt đới (tropical).

Theo một nghiên cứu năm 2012 của Ngân hàng thế giới (World Bank – WB), gần 16% diện tích, 35% dân số và 35% GDP của đất nước này có thể bị thiệt hại nghiêm trọng nếu mực nước biển dâng lên 5 m.

Thực tế, những năm gần đây, biến đổi khí hậu càng hiện hữu khi mà tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Theo báo cáo năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong chu kỳ 10 năm từ 2001-2010, các loại thiên tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm.

Với đặc thù là nước nông nghiệp, với hai “vợ lúa” là vùng đồng bằng Sông Hồng (phía Bắc) và vùng đồng bằng Sông Cửu Long (phí Nam), biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp, thể hiện trên các mặt như: thu hẹp diện tích đất nông nghiệp; tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.

Với tốc độ biến đổi khí hậu ngày càng tăng, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng và trên diện rộng, kịch bản cho Việt Nam có thể diễn biến ở mức độ cao nhất. theo kịch bản cao nhất. Theo WB, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ có thể tăng khoảng 4 oC, nước biển dâng cao trong khoảng 1m. Với kịch bản này, theo các mô hình nghiên cứu, sẽ ngập khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng, 3% diện tích các tỉnh khác vùng ven biển bị ngập, 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh và khoảng 10 - 12% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp.

Ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam

Cũng như một số nước nổi lên trên diễn đàn quốc tế về vấn đề biến đổi khí hậu trong gần 20 năm qua như như Na uy và Indonesia, biến đổi khí hậu là vấn đề còn mới đối với Việt Nam. Tuy nhiên,Việt Nam đãsớmcó những đánh giá, nhận địnhvà chiến lược ứng phó phù hợp.

Nhận thức và chủ trương rất rõ ràng

Không chỉ dừng lại ở nhận thức của người dân, về mặt chủ trương, Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo duy nhất của đất nước đã có những văn kiện rất căn bản và kịp thời đối với vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Ngay từ năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sơm có những chủ trương tại Quyết định số 187-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1991 liên quan đến “môi trường” và “sự phát triển bền vững” khi mà nền kinh tế chuẩn bị bước vào kế hoạch 10 năm cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Đến giai đoạn cuối của việc thực hiện Quyết định số 187-CT, năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đảng ra Chỉ thị số 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”.

Đến Đại hội IX (2011), Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW – chuyên đề về bảo vệ môi trường và đặc biệt nhấn mạnh đến phát triển bền vững, gìn giữ cảnh quan tự nhiên.

Sang Đại hội X, rút kinh nghiệm “về phát triển nhanh và bền vững”, BCT ra lại nghị quyết chuyên đề đặc biệt về “tam nông” - Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trọng tâm xây dựng nông thôn mới.

Điển hình nhất là gần đây, Ban Chấp hành Trung ương đã thông quaNghị quyếtchuyên đềsố 24-NQ/TW-về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lýtài nguyênvà bảo vệmôi trường”.

Hành động kịp thời

Ở cấp độ chiến lược – kế hoạch cụ thể, Chính phủ đã kịp thời từ đề cập đến có chiến lược chuyên đề để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về vấn đề biến đổi khí hậu.Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 nêu rõ quan điểm “Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Hay gần đây nhất, Chính phủ đã có Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 23/01/2014 với kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ơ cấp độ chính sách – hành động để cụ thể hóa chủ trương của Chính phủ,Việt Nam đã sớm xây dựng, ban hành các văn bản chính sách, quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu như: Luật Đê điều; Luật Tài nguyên nước; Luật Bảo vệ và phát triển rừng…

Song song với các hoạt động trong nước, Chính phủđãchủ động đểcó vai trò ngày càng tích cực trong các diễn đàn, hội nghị quốc tế, xây dựng được hình ảnh Việt Nam tích cực ứng phó vớibiến đổi khí hậutrên trường quốc tế.Điển hình nhưViệt Namluôn tích cực tham gia tất cả các Hội thường niên của các bên tham gia Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (Conference of Parties – CoP), từ CoP 1 năm 1995 đến CoP 19 năm 2013.

Bên cạnh đó, Việt Nam tích cực tham gia các tổ chức chuyên đề trong khu vực cũng như toàn cầu như:Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á (ADRC), Trung tâm phòng ngừa thiên tai Châu Á (ADPC); Ủy ban quản lý thiên tai ASEAN (ACDM); Ủy ban bão (TC); Đối tác giảm nhẹ thiên tai (NDM-P)…

Nhưng cần sự quyết liệt hơn của cả hệ thống chính trị

Chủ trương mới đây (Nghị quyết số 24-NQ/TW) đã xác định quan điểmrất rõ ràng rằng: biến đổi khí hậu là thách thức nghiêmtrọng, phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứnglà ưu tiên, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.

Tuy nhiên, hành động cụ thể của cần được sự vào cuộc quyết liệt hơn của cả hệ thống chính trị, trong đó Chính phủ giữ vị trí là đầu mối. Về nội dụng, cần hành động nhanh hơn và mạnh hơn với các vấn đề cơ bản như:

- Chính phủ, với vị trí đầu mối cần quyết liệt chỉ đạo để đưa Chương trình hành động theo Quyết định số 08/NQ-CP ngày 23/01/2014 vào thực tiễn ở các địa phương. Song song, các tổ chức chính trị khác như Quốc hội, sự lãnh đạo của Trung ương Đảng cũng cần được chủ động tăng cường.

- Về mặt thể chế, Chính phủ cần có sự điều chỉnh, sắp xếp lại tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu.

- Trên tinh thần cả hệ thống chính trị vào cuộc để ứng phó với biến đổi khí hậu, nguồn vốn đầu tư cần được tăng cường và đa dạng hóa hơn nữa. Đặc biệt, các nguồn lực từ vốn đầu tư nước ngoài (Foreign direct investment – FDI) và vốn lồng ghép các chương trình quốc gia liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn cần được tập trung tăng cường.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.