Vì sao nghề nông xuất hiện?
Tại vùng Trăng lưỡi liềm, kéo dài từ Ai Cập đến Mezopotamia – quê hương của nghề nông, những người nông dân đầu tiên đã thử trồng nhiều loại cây khác nhau. Khi đó, tại vùng này thường có những đợt mưa ngắn và mùa hè thường kéo dài và khô hạn. Trong điều kiện khí hậu như vậy, lúa mì và lúa mạch tỏ ra dễ trồng nhất. Hai loại lúa này trở thành thứ cây lương thực được canh tác đầu tiên.
Các nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH Bar-llan cho rằng những nông dân thời đồ đá mới đã biến đổi gen của cây trồng. Ngũ cốc được chọn lựa theo độ lớn của hạt. Những cây vả ở Gilgal cũng được chọn lựa theo cách tương tự. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một biến thể của cây vả cho quả ngọt và không có hạt. Loại cây này chỉ có thể trồng được bằng con đường giâm cành. Người nông dân thời đồ đá mới còn biết chọn lựa gia súc để chúng cho nhiều sữa và thịt. Những động vật đầu tiên được thuần hoá là cừu, dê và lợn. Khoảng năm 6000 trước công nguyên người ta bắt đầu nuôi bò. Lúc đó, bò cũng đã được sử dụng vào công việc đồng áng.
Điều gì đã quyết định đến việc người xưa từ bỏ lối sống hái lượm săn bắt để chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi?
Năm 1929, Gordon Childe - “cha đẻ” của ngành khảo cổ học hiện đại, đã coi sự xuất hiện của nghề nông là cuộc cách mạng thời đồ đá mới. Thuật ngữ này không chỉ gợi ra sự thay đổi nhanh chóng mà cả sự đảo lộn trong lối sống. Vào thời đồ đá mới, khi nghề nông xuất hiện, số lượng người trong các bộ lạc nhanh chóng tăng lên. Nhà nhân chủng học Marshall Sahlin vào những năm 60 thế kỷ trước, dựa trên cơ sở quan sát bộ lạc Kung chuyên hái lượm ở Nam Phi, đã đưa ra kết luận rằng trước khi có nghề nông, xã hội loài người không những không đói mà còn sống khá sung túc! Việc ăn thịt thú rừng và hoa quả hái lượm được khác rất nhiều so với thực đơn của những người nông dân.
Tại Bắc Mỹ, các bộ lạc tiền nông nghiệp đã sử dụng đến 5000 loại cây để làm thức ăn. Các nghiên cứu về xương cho thấy những thành viên của xã hội săn bắn - hái lượm cao hơn và khoẻ mạnh hơn so với những người nông dân đầu tiên bởi vì công việc đồng áng nặng nhọc đã làm biến dạng xương và khớp của họ.
Vào thế kỷ XI trước công nguyên, nhiệt độ giảm xuống đột ngột, vì vậy mà nhiều nhà khảo cổ học cho rằng nguyên nhân của cuộc cách mạng thời đồ đá mới là sự thay đổi của khí hậu. Trong thời gian này, có lẽ mưa ít rơi trên vùng Cận Đông. (Các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu vết hạn hán cách nay 13.000 năm tại Syria ngày nay). Các nhà nghiên cứu thuộc trường cao đẳng London (Anh) quan sát thấy rằng tại thung lũng Eufratu thuộc Abu Hureyra lúa hoang, có khả năng chịu hạn kém hơn đã được thay thế bởi giống lúa chịu hạn giỏi hơn và đã được chọn lọc, thuần dưỡng. Kết quả của vấn đề có thể là sự chuyển đổi sang nếp sống định cư. Tuy nhiên những nghiên cứu mới nhất tại Catalohoyuk thuộc Anatoli (Thổ Nhĩ Kỳ) đã phủ nhận quan điểm nói trên.
Tại làng Konya với diện tích bằng khoảng 24 sân vận động, cách nay 9000 năm có 8000 người sinh sống. Người phát hiện ra Catalhoyuk là nhà khảo cổ người Anh James Melaart đã gọi ngôi làng này là thành phố cổ nhất thế giới. Tuy nhiên cụm từ “thành phố” được sử dụng ở đây hơi khiên cưỡng: Tại vùng Catalhoyuk không có công trình công cộng, tất cả các ngôi nhà đều giống nhau và sát nhau đến mức đường giao thông phải chạy trên nóc nhà! Trong ngôi làng này, các nhà khảo cổ học phát hiện ra một trong những ví dụ điển hình của nghệ thuật thời đồ đá mới. Những bức bích hoạ và những hộp xương sọ gia súc trang trí tường nhà đã cho phép người ta hình dung ra cảnh săn bắn, cảnh núi lửa phun trào và phong cảnh ngôi làng nhìn từ trên cao.
Các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy nhiều tượng đàn bà béo phì. Ông Melaart cho rằng đó là những bức tượng nữ thần mùa màng và sinh sản. Ông cũng cho rằng chế độ mẫu hệ từng ngự trị ở Catalhoyuk. Tuy nhiên những phát hiện của nhà khảo cổ học Ian Hodder lại phủ nhận điều đó. Hodder cho rằng xã hội Catalhoyuk là một xã hội “dân chủ”, trong đó đàn ông và đàn bà là bình đẳng. Họ cùng chia sẻ công việc và có cùng thời gian làm việc như nhau. Tại Catalhoyuk, nông nghiệp đóng vai trò thứ yếu. Cư dân ở đây chủ yếu ăn thức ăn từ thực vật mọc hoang dã (Các nhà khảo cổ học cũng không tìm thấy dấu vết hạt lúa mì được nghiền thành bột). Người ta cũng có những phát hiện tương tự tại làng Asikli – ngôi làng hình thành sớm hơn Catalhoyuk tới 1000 năm. Mặc dù Asikli là ngôi làng kiểu mẫu với những công trình công cộng, đền thờ, nhưng phần lớn các con vật và cây cối mà dân làng sử dụng làm thức ăn, đều là hoang dã. Vậy thì điều gì đã khiến dân làng phải sống tập trung tại một nơi chật hẹp mặc dù họ không cần phải trồng trọt và chăm sóc đồng ruộng?
Ian Hodder cho rằng, “cuộc cách mạng thời đồ đá mới” bao gồm những thay đổi không chỉ về cách thức sản xuất kinh tế mà cả về tinh thần. Trước nó đã diễn ra cuộc cách mạng về văn hoá: Xã hội săn bắt - hái lượm đã bắt đầu nhìn nhận khác và có cách khai thác khác đối với môi trường thiên nhiên. Ở các cư dân vùng Catalhoyuk, sự thay đổi này là có thể hiểu được, nếu như chúng ta quan sát kỹ hơn các bức tranh vẽ cảnh săn bắn trên các bức tường nhà và tìm hiểu truyền thống chôn cất người chết ngay dưới nền nhà, gần những người còn sống. Điều níu giữ dân làng tại một nơi, có lẽ là sự gắn bó tình cảm với tổ tiên. Việc trang trí nhà cửa bằng những bức tranh mô tả cảnh săn bắn có lẽ là để đánh dấu sự chuyển đổi từ cuộc sống du cư sang cuộc sống định cư. Do đó, rất có thể nền văn minh của chúng ta hình thành từ nhu cầu về tinh thần chứ không phải từ nhu cầu về vật chất.
Nguồn: Wprost, gdtd.com.vn, số 107, 07/09/2006








