Về một vài từ trong đoạn thơ Kim Trọng tương tư
Nhiều từ ngữ, ý tứ độc đáo đã được Nguyễn Du dành riêng cho tình trạng ngày càng trọng bệnh này.
Đem 20 - 9 - 2008, Đài PTTNVN (buổi Phát thanh văn nghệ -mục Tìm trong kho báu) có phân tích đoạn thơ trên/
Có vài từ đã bàn luận trong buổi phát thanh nói trên xin được bàn góp thêm.
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.Hiểu thế là về từ hương? Theo ý kiến của Đài, hươngđây là: Kim Trọng về phòng riêng của mình, đốt hương lên tức khắc mùi hương này nhắc đến mùi hương Kiều đã đốt ở mộ Đạm Tiên. Từ mùi hương Kim mới đốt nhớ mùi hương có ở ngôi mộ và nhớ đến Thuý Kiều.
Đặt hai mùi hương trong mối tương đồng ấy, người nghe có thể hiểu là Kim Trọng đã đốt hương (thứ hương thờ cúng) tại phòng riêng của mình. Nếu như vậy, kể cũng lạ, tự nhiên không có ma chay cúng tế mà chàng Kim lại đốt thứ hương ấy để rồi liên tưởng đến mùi hương Thuý Kiều đã đốt tại mộ Đạm Tiên! Mà, ngay mộ ấy, việc có đốt hương (thứ hương cúng bái) hay không cũng là điều lâu nay nhiều nhà nghiên cứu đã bàn. Bởi chữ hươngnày liên quan đến từ kiếmhay thắp một vài nén hương.
Cụ Đào Duy Anh cho rằng Thuý Kiều không cần kiếm hương ở đâu xa mà là kiếm trong lễ vật còn lại sau khi đã tảo mộ.Nhà thơ Xuân Diệu lại cho rằng: “Thuý Kiều đứng trước mộ Đạm Tiên, muốn cúng vái, hương ở đâu, ai vứt ra đấy mà kiếm? Vô lí! Kiếm đâu ra? Kiếm là nhặt nhanh thiếu tề chỉnh. Không đặt vấn đề lấy nhang ở đâu ra, chỉ biết rằng thắp nhang là được”. Nhà thơ đã kết luận: chẳng có nhang hương nào cả, đó là tân nhang!
Nếu cần kĩ lưỡng hơn, ta tra lại nguyên truyện( Kim Vân Kiều truyệncủa TTTN): nãi toái thể vi hương đảo thân tứ bái(Kiều bèn vun đất làm hương và lạy bốn lạy). Đấy là theo bản KVKT của Học viện sư phạm Quảng Đông(5 - 1959), còn bản của cụ Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh dịch thì Thúy Kiều bẻ một cành trúc, cắm lên mộ rồi khấn (nguyên văn: Nhân chiết trúc chi, sáp vô mộ đỉnh, chúc đạo).
Vậy Thúy Kiều có đốt nhang (hương) hay không còn là vấn đề nghi vấn, có lẽ không nên khẳng định Kim Trọng đốt hương nhớ đến mùi hương ở mộ Đạm Tiên. Chưa nói đến như ở trên đã trình bày, việc đốt hương nếu là hương cúng thì có phần không hợp.
Vậy hươngđây là gì? Có thể Kim Trọng đốt hương trầm, một nét sinh hoạt quý phái, cốt để trong phòng có mùi thơm nhè nhẹ, thanh thoát. Chỉ có mùi hương thơm dễ chịu ấy mới gợi cho chàng Kim nhớ Thuý Kiều. Bởi các cô gái đẹp vốn có mùi hương thơm, mùi thơm trời cho, Thiên hương. Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(Đạm Tiên). Mùi thiên hương ấy có ở phòng ngủ của Thuý Kiều khi Đạm Tiên đến gặp Kiều ( Trông theo nào thấy đâu nào/ Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây). Hình như cái số kiếp đoạn trường Đạm Tiên ngày trước nay là Thúy Kiều nên chàng Kim lại tìm thấy mùi hương ấy khi Thuý Kiều đánh rơi cành kim thoa ( Buông cầm xốc áo vội ra. Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh). Kim Trọng nhặt cành thoa và, Liền tay ngắm nghía biếng nằm/ Hay còn thoang thoảng hương trầm chưa phai…
Cũng trong buổi phát thanh ấy có từ màu trong Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu. Kim Trọng tương tư hết trạng thái nhớ nhung, mong đợi trong lúc thức đến chiêm bao cũng không gặp được Thuý Kiều; tỉnh lại bước chân của chàng lại lãng đãng đến nơi đã gặp chị em Thuý Kiều. Sao thiên nhiên ở đây ảm đạm thảm thương đến thế? Vi lô hiu hắt…và, giải thích màu khơi trêu,Đài đã cắt nghĩa như sau: trong các màu tự nhiên: đỏ, da cam, lam, vàng, tím… không có màu khơi trêu. Ở đây tác giả đã mạnh dạn dùng màu khơi trêu. Ta không hình dung nó có màu sắc cụ thể nào nhưng ta hình dung được cái màu ấy nó tác động đến tâm trạng, đến nỗi buồn của Kim Trọng.
Đài cho rằng: đây là tính hiện đạitrong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du. Chúng tôi thấy nghi ngờ ý kiến trên. Bởi chữ màukết hợp với hai động từ: Khơi (khẩy, khơi dậy) trêu là trêu ngươi. Cái ẩn số x nào đấy nhưkhơi dậy, trêu ngươi chàng trai đa tình. Dẫu Nguyễn Du hiện đại đến đâu cũng không có kết cấu từ: màu + động từ. Ví như màu ăn uống, màu đi đứng, màu chạy nhảy…
Vậy từ màunày không thể hiểu là màu sắc. Màu,từ cổ, dáng vẻ (Khác màu kẻ quý người thanh/ Ngẫm ra cho kĩ như hình con buôn/ Lạ tai nghe chửa biết đâu/ Xem tình ra cũng như màu dở dang…). Như vậy, chắc cụ Nguyễn muốn nói cái màu ảm đạm hiu hắt của vi lônhư có cẻ khơi dậy, trêu ghẹo chàng Kim.
Hoặc là, nhất thiết phải hiểu từ màu là màu sắc, chắc phải là cái màu vi lô hiu hắt(cái màu ảm đạm) ấy như khơi dậy, trêu ghẹo nỗi lòng đang buồn, đang tương tư của Kim Trọng. Nếu hiểu như vậy, câu thơ này tác giả viết theo lối đảo ngữ.
Chúng tôi cho rằng để giảm nhẹ cái sự khơi gợi, trêu chọc cụ Nguyễn nói có vẻ là như thế, như thế.
Ngẫm hay cũng một từ thôi,
Mỗi người một ý để đời cùng suy.








