Vàng da, nên chú ý tiểu tiện thông lợi hay không
Trường hợp chỉ có phần lý nhiệt, nên chú trọng tả lý nhiệt, điều 260 sách Thương hàn luận dùng nhân trần hao thang, là phương tễ đại biểu.
Trường hợp nhiệt thịnh tổn thương tân dịch, phương pháp điều trị nên chú trọng thanh nhiệt nhuận táo, không thể làm tổn thương thêm tân dịch. Điều 261 dùng chi tử bá bì thang là phương tễ đại biểu. Hai điều 111, 200 đều nói về thể bệnh này.
Trường hợp huyết ứ tích gây ra vàng da, điều 125 dùng để đương thang là phương tễ đại biểu, vừa tả nhiệt vừa phá huyết.
Nhìn khái quát, cùng một cơ chế thấp nhiệt phát ra vàng da, nhưng trên lâm sàng có nhiều thể bệnh khác nhau, cho nên phương pháp điều trị cũng khác nhau.
Không chỉ thấp nhiệt phát ra vàng da, cơ chế hư hàn cũng phát ra vàng da. Về trường hợp dương minh hư hàn phát ra vàng da, điều 195 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh dương minh mạch trì, không được ăn quá no, ăn no sẽ có cảm giác bứt rứt nhẹ, chóng mặt mà tiểu tiện tất là không thông lợi. Đó là sắp tạo thành chứng cốc đản. Tuy dùng phương pháp công hạ điều trị, bụng vẫn đầy chướng như trước. Uống thuốc không công hiệu là do mạch tượng trì”.
Do thức ăn không tiêu hoá được, uất lại làm trở ngại trung tiêu, nhân đó mà da phát ra sắc vàng, gọi là “cốc đản”. Trong điều 195, chính là do nguyên nhân trong vị hư hàn, ngũ cốc ăn vào không tiêu phát sinh các triệu chứng phức tạp. Căn cứ vào xu thế phát triển của bệnh, mà chẩn đoán là cốc đản. Phủ vị hàn, cho nên mạch tượng trì. Dương hư không vận hành, cho nên không thể ăn no. Miễn cưỡng ăn uống, tất nhiên gây trở ngại trung cung. Thuỷ cốc uất lại bốc lên, cho nên có cảm giác bứt rứt nhẹ. Trung tiêu đã bị chướng ngại thì cơ chế thăng giáng của âm dương vướng trệ. Thanh dương không thăng, cho nên phát sinh chóng mặt, trọc âm không giáng, cho nên bụng đầy chướng, tiểu tiện khó. Trường hợp đó điều trị nên dùng phương pháp ôn kiện trung dương, tiết trọc thăng thanh. Nhưng thầy thuốc lại lầm dùng phương pháp công hạ. Nếu như chứng thuộc thấp nhiệt, còn có thể công hiệu. Còn chứng nói trong điều 195 là thuộc hư hàn, là điều trị không đúng cơ chế bệnh. Cho nên tuy đã công hạ mà trung vẫn đầy trướng như trước. Xét kỹ, thấy trường hợp sau khi công hạ mà bụng vẫn đầy chướng như trước, không nhất định là thuộc hư hàn. Đại thừa khí chứng cũng có trường hợp công hạ mà bụng đầy chướng không giảm, hoặc là giảm không đáng kể. Đương nhiên chẩn đoán bụng đầy chướng thuộc thực hay thuộc hư là có phân biệt nhất định. Song chứng nói trong điều 195 thuộc cơ chế hư hàn, là có trong điểm biện chứng, đó là mạch tượng trì. Cho nên trong điều văn nhấn mạnh: “không công hiệu là do mạch tượng trì”. Nhưng vẫn phai kết hợp mạch với chứng mà xem xét, mới có thể tránh được lầm lẫn. Quyết không thể chỉ đơn thuần dựa vào mạch tượng mà có kết luận chẩn đoán xác định. Như điều 208 nói về đại thừa khí thang chứng, điều 234 nói về quế chi thang chứng đều có mạch tượng trì. So sánh mạch trì trong các điều nói trên với mạch trì trong điều 195 là thuộc các cơ chế bệnh khác hẳn nhau: một trường hợp thuộc lý thực, một trường hợp thuộc biểu hư, lý hàn, dương minh phủ thực, mạch trì bất hữu lực. Dương minh biểu hư, mạch phù trì. Dương minh hư hàn, mạch trì tất vô lực!
Vàng da nói trong điều 195 là âm hoàng chứng, do cơ chế tỳ vị vốn có hàn thấp tạo thành. Điều trị nên dùng nhân trần tứ nghịch thang gia thần khúc (nhân trần, hắc phụ chế, can khương, chích cam thảo, thần khúc).
Về cơ chế bệnh của âm hoàng và phương pháp điều trị được phát triển trong điều 259 sách Thương hàn luận như sau:
“Bệnh thương hàn sau khi phát hãn, khắp người và mặt, mắt đều phát sắc vàng. Sở dĩ như thế là do nguyên nhân phần lý có hàn thấp không được giải trừ gây ra. Phương pháp điều trị chứng này, không thể sử dụng công hạ, nên tìm trị pháp trong nguyên nhân bệnh của hàn thấp”.
Người bệnh vốn có hàn thấp ở trong, dương khí tì vị từ trước đã bất túc. Nhân vì bệnh thương hàn mà dùng phương pháp phát hãn. Biểu hàn tuy rút, nhưng dương khí phần lý cũng hư, công năng kiện vận của tỳ vị càng thêm suy yếu; nhân đó mà hàn thấp càng nặng. Thấp tà ứ tụ không chuyển hoá, cho nên uất lại mà thành vàng da.
Loại hoàng đản này do cơ chế hàn thấp tạo thành, là thuộc thể âm hoàng, khác hẳn với dương hoàng do dương minh thấp nhiệt gây ra. Dương hoàng sắc tươi như mầu quả quýt, mà tất là phải kiêm thêm các triệu chứng thực nhiệt khác (mạch trầm sác hữu lực). Âm hoàng phát sinh là do cơ chế dương khí tỳ vị bất túc, hàn thấp gây chướng ngại bên trong. Sắc vàng tối ám, có kiêm thêm các triệu chứng lý hàn khác (mạch trầm trì vô lực). Hai chứng này trong chẩn đoán phân biệt khác nhau rõ ràng.
Chứng vàng da nói trong điều 259 là thuộc cơ chế thấp thắng dương yếu. Cho nên trong luận trị không ra ngoài phạm vi của phương pháp ôn trung hoá thấp khu hoàng. Các phương tễ như nhân trần tứ nghịch thang, ngũ linh tán gia quất bì hậu phác... tuỳ chứng gia giảm, chọn dùng.
Điều trị âm hoang chứng, nếu tiểu tiện thông lợi, dùng truật phụ thang, nếu tiểu tiện không thông lợi, đại tiện lại nhanh (có khi nát) dùng ngũ linh tán.
Xử phương dụng được, còn cần kết hợp với thể chất người bệnh, phân rõ xu thế bệnh nặng nhẹ, triệu chứng chủ yếu, thứ yếu. Nhiệt nặng hơn thấp hay thấp nặng hơn nhiệt, hàn nặng hơn thấp hay thấp nặng hơn hàn. Nếu cơ chế tác dụng của phương tễ giải quyết thích đáng cơ chế bệnh của dương hoàng, âm hoàng kết hợp với cơ địa riêng biệt của mỗi người bệnh theo các nguyên lý cơ bản của đông y, như “phì nhân đa đàm, xấu nhân đa hoả” “hàn thương hình, nhiệt thương khí” mà gia giảm và sử dụng đúng chủ dược, tá dược, bào chế đúng yêu cầu biện chứng luận trị sẽ tăng thêm hiệu quả lâm sàng.
Nguồn: T/c Đông y, số 372,25/4/2005







