Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/08/2009 16:17 (GMT+7)

Vận hội mới đến với thành phố lịch sử Hà Đông

Họ vui không hẳn vì đã thoát khỏi một hữu hạn nào đó, họ còn vui mừng cho một cơ hội mới, một tương lai tốt hơn cho thủ đô phát triển. Còn nỗi buồn là có thật, một số ít người buồn tiếc vì sựu mất mát cá nhân, phần cón lại buồn vì nuối về một vùng đất cổ văn hiến bao đời không còn mang tên riêng nữa. Bù lại nơi đây đã cùng hoà chung vào vùng đất thiêng “linh sơn, địa tú”, lộng gió mây trời, nhân dân anh hùng suốt cả nghìn năm hỏi sao không vui được? Dù chữ “Hà Tây” từ nay không còn trên bản đồ đất Việt, nhưng hai tiếng Hà Đông thì không nghi ngờ gì nữa, mãi mãi sẽ tồn tại.

Lịch sử một vùng đất thiêng

Cuối thế kỷ 19 thực dân Pháp đã biến Trung tâm Hà Nội thành đất nhượng địa, thủ phủ của tỉnh Hà Nội chuyển về làng Đơ. Năm 1902 toàn quyền Đông Dương thành lập tỉnh Đơ và đến năm 1904 đổi tên tỉnh Đơ thành tỉnh Hà Đông và thị xã cùng mang tên từ đấy.

Sau khi ngược sông Đáy và xuôi theo dòng Nhĩ Hà về tìm chốn định đô, năm 1010, vua Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và làm lễ tuyên “chiếu thiên đô” tại vùng đất này”.

Trong những năm xây dựng và bảo vệ đất nước. Hà Đông luôn gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử nước nhà, góp phần làm nên những chiến công oanh liệt của Chương Dương, Hàm Tử, Tốt Động, Trúc Động, Ngọc Hồi. Đặc biệt trong đại phá quân Thanh 1789, Hà Đông là bãi chiến trường khốc liệt nhất. Chính nơi đây, Quang Trung đã làm nên chiến thắng Đống Đa, một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, trên mảnh đất Hà Đông này, tại làng Vạn Phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” vào đêm 19/12/1946 mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp chín năm.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 06/10/1954 Hà Đông được giải phóng và chuẩn bị mọi điều kiện thuận lợi nhất để đón bộ đội về tiếp quản thủ đô ngày 10/10/1954.

Thời kỳ xây dựng và phát triển

Trong những năm dài dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hà Đông hầu như không được xây dựng những công trình kiến trúc có giá trị. Mãi đến những năm 1920 trở đi, nơi đây mới có một số công trình nhỏ như: Nhà thờ, dinh tổng đốc và một vài dãy phố xây dựng thuộc khu vực xung quanh nhà thờ và dọc đường 6 quanh đó. Khi mở đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vào đầu những năm 1960, tại Hà Đông đã xây dựng một số công trình tầm cỡ, đó là: Trụ sở UBND tỉnh, Hội trường Tỉnh uỷ (sau là Nhà văn hoá trung tâm), Nhà hát nhân dân và trụ sở một vài cơ quan thuộc tỉnh.

Trong quá trình xây dựng thị xã, chủ yếu dựa vào những tuyến phố có sẵn từ thời thuộc Pháp để lại. Những năm tiếp theo, việc xây dựng vẫn dựa trên cơ sở như ban đầu, tức là có đến đâu làm đến đấy theo một phong cách và nếp nghĩ của các nhà lãnh đạo, nó phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Điều đó cũng có nghĩa nhất định đồng thời cũng tạo một tiền lệ cho mãi về sau khó có thể thay đổi được.

Vào những năm cuối của thế kỷ 20, Hà Tây được thừa hưởng từ chủ trương và sự đầu tư của Nhà nước, hình thành một số hệ thống giao thông quan trọng quốc gia như: Đường 1A, 1B, đường Láng – Hoà Lạc, đường Hồ Chí Minh…. Đồng thời một số tuyến đường được mở rộng và nâng cấp như quốc lộ 6, quốc lộ 21B, quốc lộ 32 và một số tuyển tỉnh lộ khác. Riêng Thành phố Hà Đông đầu tư mở rộng tuyến đường 430, đường Tô Hiệu, đường Ngô Thì Nhậm… một số tuyến phố mới đang triển khai như: đường Lê Văn Lương, Lê Trọng Tấn và một số tuyến giao thông đô thị nội bộ… Cùng với hệ thống đường giao thông được cải tạo và mở rộng, bộ mặt đô thị đã được thay đổi, nhất là dọc tuyến quốc lộ 6, tuyến phố Tô Hiệu. Sau năm 2005 trở đi, khi Việt Nam gia nhập WTO nền kinh tế thị trường có điều kiện phát triển, việc triển khai xây dựng khẩn trương các khu đô thị mới của Thành phố tăng lên nhanh chóng. Mở đầu là khu đô thị Văn Quán do Tổng Công ty xây dựng phát triển nhà (HUD) thuộc Bộ xây dựng làm Chủ đầu tư; kế đến là khu Mỗ Lao do Công ty TSQ xây dựng làng Việt kiều Ba Lan, khu Xa La do Xí nghiệp Xây dựng I Lai Châu, khu đô thị Phúc La do 1 đơn vị của Hà Nội, khu đô thị Văn Phú do đơn vị tỉnh Quảng Ninh, khu La Khê co Công ty Sông Đà Thăng Long, khu vực đường Lê Trọng Tấn (La Khê) do Công ty COMA 18 Bộ Xây Dựng là chủ đầu tư. Ngoài ra còn nhiều khu đô thị nhỏ lẻ khác cỡ dăm ba ha do các chủ đầu tư khác nhau thực hiện. Đặc biệt khu Dương Nội chiếm diện tích đến khoảng 600ha do tập đoàn Nam Cường làm chủ đầu tư cũng đang đi vào giai đoạn đầu chuẩn bị. Tốc độ đô thị hoá ở đây diễn ra rất nhanh, có phần gấp gáp, nhất là vào thời điểm trước những ngày sáp nhập Hà Tây về Hà Nội.

Hiện nay tên tỉnh Hà Tây đã không còn, thành phố Hà Đông nếu có được thay đổi gì đấy trong thời gian vừa qua đều do Trung ương và cấp tỉnh trực tiếp điều hành. Toàn bộ các khu đô thị đã được bàn giao cho các chủ đầu tư quản lý và triển khai thực hiện. Đến nay khu Văn Quán đã cơ bản hoàn thành và đi vào sử dụng. Khu Xa La đã dựng lên được 3 nhà cao tầng chung cư, tuyến đường đôi và một số công trình phục vụ khác. Còn hấu hết các đô thị khác mới chỉ bắt đầu như: Đô thị La Khê, Mỗ Lao, Phúc La, Văn Phú, La Khê, Dương Nội đều đang trong giai đoạn chuẩn bị. Khả năng trở thành “dự án treo” của nhiều khu trong hoàn cảnh nền kinh tế chung toàn cầu đang suy thoái rất có thể khó tránh khỏi.

Đối với các xã phường trong Thành phố, việc đô thị hoá diễn ra rất nhanh bất kể phố nào, phường nào, xóm thôn nào cũng nở rộ xây dựng khắp nơi, các nhà ở 2, 3, 4 tầng, trụ sở, nhà văn hoá. Trạm y tế và trường học đang tiến hành xây dựng rất nhanh và đều khắp. Sở dĩ có được như vậy là nhờ nguồn kinh phí bán đất của các dự án. Toàn Thành phố có diện tích 47km 2, số dân khoảng 20 vạn người với 7 xã, 10 phường. Quy mô như vậy cũng là vào loại đô thị lớn. Song công tác quy hoạch và xây dựng hiện có ngang tầm với một thành phố hiện đại hay không thì xem ra cũng còn nhiều bất cập. Xét trên cả địa bàn, quy hoạch làng nghề cuả các địa phương như làng lụa Vạn Phúc, dệt La Dương, làng nghề sản xuất và kinh doanh La Khê, rèn Đa Sỹ, mỹ nghệ Huyền Kỳ, xây dựng Phú Lương và kinh doanh dịch vụ Mộ Lao là khá hơn cả. Tuy nhiên một số làng cũ như ren, mỹ nghệ, dệt, xây dựng thông thường khó có khả năng theo kịp yêu cầu ngày một cao của xã hội. Việc xây dựng ở Vạn Phúc, La Khê, La Dương có quy củ và chất lượng hơn. Nhưng tình trạng xây dựng tự phát, tuỳ tiện không có quy hoạch chung có chất lượng hoặc chưa quy hoạch và đặc biệt là quy hoạch kỹ thuật hạ tầng còn thiếu và rất yếu gây sự lộn xộn chắp vá và nhất là công tác quản lý xây dựng còn lỏng lẻo chắc chắn sẽ để lại hậu quả lâu dài. Nạn ô nhiệm môi trường đang diễn ra rất nghiêm trọng.

Tóm lại việc đô thị hóa trong tình trạng gấp gáp chưa đủ độ chín mọi mặt và thiếu đồng bộ trong khi quy họach chung của thành phố chưa hoàn chỉnh, tình trạng mạnh ai lo của các nhà đầu tư, mạnh người dân nào người đó xây dựng theo khả năng riêng của mình, rồi đây bộ mặt đô thị của thành phố quan trọng không kém bất kỳ một quận nào của nội đô rồi sẽ ra sao?

Đến nay toàn bộ ruộng đất của thành phố đã nằm trong các đồ án quy hoạch đô thị lấp đầy. Nhưng theo một số tuyến phố kéo dài của cái đã có, thậm chỉ cả những cái đang có, chất lượng công trình thiết kế vẫn tầm tầm dáng xưa.

Qua xem xét sơ bộ về tình hình quy hoạch, và quản lý ở đây, có lẽ cũng có nhiều điều phải bàn:

1. Có một số nhược điểm, tồn tại và vướng mắc sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đô thị sau này như không có quy hoạch cả thành phố, có tính đến quy hoạch vùng cũng như tính thống nhất và phân bổ. Việc bố cục không gian, tính hợp lý, hệ thống giao thông nối liền các khu đô thị và hệ thống hạ tầng kỹ thuật không dược nghiên cứu tổng quan chung, tính riêng rẽ và mạnh ai nấy làm, sao tránh khỏi sự manh mún, chồng chéo và vênh váo? Cả thành phố có đến 8 trạm bơm nhưng là trạm bơm tưới nước chống hạn, không có hệ thống tiêu nước chính. Hiện nay do tình trạng san ủi lấp hết kênh mương hiện tượng ngập úng sẽ trở nên thường xuyên.

2. Việc quản lý quy hoạch chung không đủ cán bộ, hơn nữa chuyên môn lại hạn chế. Việc điều khiển, điều hành trước đây chủ yếu bằng một hệ thống chính trị thì làm sao đảm bảo tính khoa hoc, cũng như tính thực tiễn và hợp lý để đưa chất lượng quy hoạch ngày một cao hơn.

3. Xem trên từng khu đô thị, có tới hàng chục các nhà đầu tư từ khắp các vùng miền đến, làm sao mà thấy hết được trình độ chuyên môn, năng lực tài chính, kinh nghiệm xây dựng cũng như khả năng trang thiết bị xây dựng chuyên môn thế vào? Những người chủ nhân trên lãnh thổ này hầu như họ phải đứng ngoài cuộc!.

4. Các đơn vị tư vấn đòi hỏi phải có kinh nghiệm chuyên môn tốt, được đào tạo hoàn chỉnh. Xem ra khâu này cũng rất yếu và lại trong tình trạng quản lý khá lỏng lẻo. Thực tế có những đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch, lực lượng chuyên môn toàn là những sinh viên vừa mới ra trường vài năm mà đảm đương quy hoạch một khu đô thị có quy mô đến hàng nghìn hoặc vài nghìn hecta, liệu điều kiện như vậy có thể đảm bảo chất lượng để xây dựng một đô thị hiện đại không. Bên cạnh đó một số đơn vị tư vấn từ bên ngoài chưa nghiên cứu cụ thể và sâu sắc đã được giao quy hoạch những tuyến giao thông dài đến 40 – 50 km thì làm sao đạt yêu cầu. Trên thực tế họ cũng chỉ giúp tỉnh và chủ đầu tư giải quyết việc chuyển nhượng đất cho các dự án mà thôi chứ chẳng có thì giờ để nói đến lương tâm nghề nghiệp và tránh nhiệm công dân của họ.

5. Với dân số của thành phố Hà Đông như hiện nay thì nhu cầu về nhà ở không thiếu lắm bởi cuộc sống của họ đã định cư lâu dài, mặt khác dân cũng không có nhiều tiền. Nếu thực hiện đầy đủ các quy hoạch đô thị như đã nêu ở trên với diện tích ở tăng hàng triêu m 2 như thế sẽ không phải cho chính dân sở tại chắc chắn chỉ phục vụ cư dân từ xa chuyển về trong khi dân tại chỗ thì mất ruộng đất. Vậy có nên làm ồ ạt hay không? Việ chuyển dịch dân số theo cơ học nên hướng vào các đối tượng sản xuất kinh doanh, học tập và nghiên cứu, tất nhiên cũng cần phải dành một tỷ lệ diện tích thích đáng để lo rau sạch cho dân, lo công trình giải quyết vấn đề môi trường sinh thái cũng như trường sở và công sở. Còn đối với những cư dân từ xa chuyển đến nhằm giải quyết chỗ ở thì có nên tập trung mật độ lớn và trong một thười giân ngắn hay không? Vì đất là tài nguyên quý hiếm nuôi sống con người và không thể bù đắp lại được.

6. Việc lấy đất của nông dân để xây dựng đô thị thì ở đâu và thời nào cũng phải làm vậy, song có điều những người tham gia tổ chức thực hiện nó phải tham gia vào việc giải quyết công ăn việc làm và an sinh xã hội là điều cần nghiên cứu kỹ lưỡng và có tránh nhiệm trước nhân dân. Bởi lo cho dân chính là thực hiện việc “lấy dân làm gốc” như Bác Hồ kính yêu lúc sinh thời đã dạy.

Chúng ta đang tiến tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Thành phố Hà Đông nay đã trở thành một phần máu thịt của Hà Nội thiêng liêng, hào hoa và văn hiến: Mong Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội quan tâm và định hướng trên tinh thần thủ đô mới nhằm xây dựng thành phố Hà Đông phát triển ngang tầm với các quận phát triển của nội thành, góp phần đưa Hà Nội trở thành thủ đô văn minh hiện đại trong khu vực và thế giới.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thông tin khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trong giai đoạn phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực quan trọng của tăng trưởng, trong đó thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng được xem là nguồn lực chiến lược. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thông tin KH&CN có ý nghĩa thiết thực, góp phần xây dựng nền tảng tri thức phục vụ phát triển nhanh và bền vững.
Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng: Doanh nghiệp phải là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và đổi mới mô hình kinh tế
Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, đất nước đang rất cần một bước chuyển về chất sâu sắc: lớn lên bằng năng suất, mạnh lên bằng sáng tạo và đi xa bằng trách nhiệm. Trong đó, doanh nghiệp chính là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp đổi mới...
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Luật gia Việt Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2026-2031
Sáng 7/10, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Luật gia Việt Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo tại Đại hội.
Lào Cai: Ra mắt "lá chắn số" CDSH E-learning bảo vệ thanh niên trên không gian mạng
Sáng 6/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tổ chức Sự kiện ra mắt Bộ công cụ tự học trực tuyến CDSH E-learning. Sự kiện thuộc khuôn khổ Dự án “Thanh niên trong công tác phòng ngừa rủi ro trên không gian mạng” do Liên minh Châu Âu tài trợ.
Hội nghị Trung ương 4: Phát huy sức sáng tạo con người trong giai đoạn phát triển mới
Phát biểu tại Khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, Hội nghị Trung ương lần thứ Tư vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.