Vấn đề theo dõi các bà đã được chủng ngừa ung thư cổ tử cung
Hỏi: Chủng ngừa virus papilôma ở người (HPV) có khả năng thay đổi thể thức phát hiện ung thư cổ tử cung?
Trả lời: Vaccin kháng HPV bảo vệ đầy đủ và phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Đặc lợi của nó đồng tác và bổ sung cách phát hiện bằng kính phết cổ tử cung. Hiệu quả của kỹ thuật phết kính này không hoàn hảo và khó có thể áp dụng cho suốt đời người. Ở Pháp, 40% các bà, đặc biệt trên 50 tuổi, không đi khám thường kỳ phết cổ tử cung. Cũng được biết, vaccin không bảo vệ được tuyệt đối, vì lẽ chỉ phòng ngừa được 65% các thương tổn tiền ung thư và 70% ung thư cổ tử cung. Do đó, các lời khuyên chuyên môn chính thức là phải giữ nhịp độ khám phết cổ tử cung như từ trước, tức mỗi ba năm một lần; trong thực tiễn được khuyên từ 18 tháng đến 2 năm.
- Dầu sao, có thể bị an bài sai ở các bà đã được chủng ngừa?
- Trong tương lai theo dõi cần cố gắng tránh hai sai trợt: có ý nghĩ vaccin bảo vệ tuyệt đối ung thư cổ tử cung và lơi là việc phát hiện những bệnh ở đường tình dục.
- Trong vài năm tới có thể tỷ lệ bệnh mới phát hiện sẽ giảm?
- Chủng ngừa tối thiểu 50% các cháu gái và các phụ nữ chưa nhiễm HPV, có thể thấy giảm và đo được số ung thư cổ tử cung và những thương tổn tiền ung thư. Thật vậy, ở nhóm người này, chủng ngừa cho hiệu nghiệm tốt hơn cả, giúp ngừa 100% các loạn sản (*) vừa vừa đến nghiêm trọng, kết hợp với týp siêu vi của vaccin và 50 đến 60% toàn bộ loạn sản của cổ tử cung. Vaccin hoá trị bốn (dùng để chủng ngừa) bảo vệ phụ thêm các condylom mào gà và các thương tổn loạn sản ở âm hộ và ở âm đạo, thường gặp (2 đến 4%) ở phụ nữ trẻ (15 - 25 tuổi, ở Pháp), tái đi tái lại và ảnh hưởng sâu và xấu về mặt tâm lý ở người mắc phải.
Vấn đề còn lại là thời gian bảo vệ của vaccin. Chưa được biết. Theo dõi các cháu được chủng ngừa sau 60 tháng, có nhận định tỷ lệ kháng thể giảm xuống đôi chút; nhưng được biết cơ thể có ký ức tiền sử đối với HPV và làm tăng hiệu năng, nếu có thể có, một mũi chích nhắc lại.
(*) Loạn sản: dysplasie, displasia: rối loạn mắc phải trong tiến trình thành thục của một mô có tính chất thay thế nhanh và có thể thành tình trạng tiền ung thư.








