Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 22/10/2009 16:52 (GMT+7)

Vấn đề lựa chọn sản lượng trong khai thác than dưới góc độ kinh tế học

Hàm hồi quy và đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được nghiên cứu và sản lượng than khai thác. Các phương pháp quản lý kinh tế hiện đại thường được xây dựng trên cơ sở phân tích kinh tế học các vấn đề kinh tế xã hội và từ những phân tích kinh tế học Nhà nước có thể đưa ra các chính sách vĩ mô phù hợp trong quản lý nền kinh tế, còn các nhà sản xuất và những người tiêu dùng nhờ các phân tích kinh tế học có thể lựa chọn cho mình cách ứng xử tốt nhất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất và trong tiêu dùng. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp phân tích kinh tế học chưa được vận dụng nhiều trong việc ra các quyết định quản trị kinh doanh đối với một doanh nghiệp nói riêng và đối với một ngành kinh tế nói chung. Mặc dầu vậy, tiếp cận kinh tế học bằng cách sử dụng một số chỉ tiêu của phương pháp này, trong chừng mực nhất định sẽ cho ta nhìn thấy hiệu quả sản xuất một cách sát thực hơn và đưa ra được các quyết định kinh doanh có căn cứ khoa học hơn. Trong phạm vi bài báo này, tác giả muốn sử dụng một số chỉ tiêu của kinh tế học để phân tích kết quả sản xuất kinh doanh trong các năm qua của ngành Than nhằm phản ánh tính đúng đắn của việc không ngừng nâng cao sản lượng của ngành trong những năm gần đây và những quyết định về sản lượng trong những năm tới. Tất nhiên, ở đây chỉ có thể đi đến kết luận khái quát, còn để đưa ra kết luận chính xác và đầy đủ cần phải phân tích kỹ lưỡng với số liệu đầy đủ, chính xác hơn.
Hàm hồi quy và đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được nghiên cứu và sản lượng than khai thác.

Để phân tích vấn đề này chúng tôi dựa trên cơ sở số liệu tham khảo được về kết quả sản xuất kinh doanh của ngành Than từ năm 1995 - 2007 [1]. Số liệu được trình bày ở Bảng 1.

Ghi chú ở bảng trên: SLTS - Sản lượng than sạch; DTT - Doanh thu than; GBBQ - Giá bán bình quân 1T than; CPSX - Chi phí sản xuất; QTBQ - Giá thành bình quân 1 tấn than; LNTT - Lợi nhuận trước thuế từ sản xuất than; Nguồn số liệu: Chuyên đề tiến sĩ, Nghiên cứu sinh Bùi Thu Thuỷ, Hà Nội 2008.

Từ số liệu trong Bảng 1 ta thấy ngành Than trong 13 năm qua sản xuất kinh doanh luôn có hiệu quả và hiệu quả kinh tế của ngành hầu như ngày càng tăng khi quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, các chỉ tiêu ở bảng này chưa làm rõ được nội tại của tính hiệu quả kinh tế nên chưa cho phép đánh giá được việc không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăng sản lượng khai thác trong những năm gần đây có hợp lý hay không và nếu vẫn tiếp tục tăng sản lượng với tốc độ cao trong những năm tới thì hiệu quả kinh tế sẽ như thế nào?

Trước khi phân tích, ta đưa thêm vào hai chỉ tiêu của kinh tế học vi mô là chỉ tiêu doanh thu biên (MR) và chỉ tiêu chi phí biên (MC). Trong đó, chỉ tiêu doanh thu biên là chỉ tiêu đo mức độ tăng doanh thu khi tăng thêm một đơn vị sản lượng/ năm, còn chỉ tiêu chi phí biên là chỉ tiêu đo mức độ tăng chi phí khi tăng thêm một đơn vị sản lượng/ năm.

Các chỉ tiêu phân tích theo kinh tế học vi mô.
Các chỉ tiêu phân tích theo kinh tế học vi mô.
Để tính các chỉ tiêu này ta sắp xếp lại dãy số liệu theo chiều tăng dần của mức sản lượng và thu được kết quả ở bảng 2.

Từ bảng số liệu trên ta thấy các chỉ tiêu doanh thu biên, chi phí biên và giá thành 1 tấn than biến động theo xu thế tăng lên cùng với mức sản lượng tăng. Điều này phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh của ngành than những năm gần đây, do giá bán than trên thị trường ngày càng cao, tốc độ tăng giá cao hơn tốc độ tăng sản lượng nên doanh thu biên có xu hướng tăng. Tuy nhiên, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn do diện khai thác bị thu hẹp, mỏ ngày càng phải xuống sâu nên chi phí khai thác cũng không ngừng tăng, tốc độ tăng giá thành cao hơn tốc độ tăng sản lượng nên chi phí biên cũng ngày càng tăng lên.

Để có cái nhìn tổng quát sự biến động của các chỉ tiêu được nghiên cứu, ta tiến hành làm trơn các đường biểu diễn này bằng các hàm hồi quy. Phương pháp bình phương nhỏ nhất cho phép ta xây dựng được các hàm hồi quy biểu diễn mối liên hệ phụ thuộc giữa các chỉ tiêu được nghiên cứu trên đây với mức sản lượng năm. Hàm hồi quy cùng với tỷ số tương quan, độ phù hợp của phương trình hồi quy được trình bày trên hình H1.

Hàm hồi quy thu được với các tỷ số tương quan và độ phù hợp khá cao nên ta có thể dựa vào các hàm hồi quy này để phân tích hiệu quả kinh tế của ngành Than trong thời gian qua. Đối với người sản xuất kinh doanh, mục tiêu hoạt động của họ là tối đa hoá lợi nhuận. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên mục tiêu hoạt động của Tập đoàn cũng không ngoài điều đó. Theo kinh tế học vi mô, để có lợi nhuận tối đa nhà sản xuất cần chọn mức sản lượng cao cho doanh thu biên bằng chi phí biên. Trên hình vẽ ta thấy doanh thu biên và chi phí biên bằng nhau (MR = MC) tại hai điểm với sản lượng Q = 11,39 triệu tấn/ năm và Q = 34,86 triệu tấn/ năm.

Từ kết quả trên ta có thể đưa ra nhận xét như sau: Từ mức sản lượng Q = 11,39 triệu tấn/ năm đến mức sản lượng Q = 34,86 triệu tấn/ năm thì doanh thu biên luôn lớn hơn chi phí biên, do đó ngành than càng tăng sản lượng thì lợi nhuận càng tăng. Điều đó đã diễn ra đúng như trong thực tế thời gian qua. Mức sản lượng tối ưu, cho lợi nhuận lớn nhất, ở điều kiện sản xuất hiện tại của TKV là khoảng 35 triệu tấn/ năm. Tuy nhiên, theo Bảng 1 sản lượng của ngành than năm 2007 đã lên đến 37 triệu tấn. Với mức sản lượng này thì hiệu quả kinh tế của ngành than sẽ giảm đi. Điều này cũng rất rõ, bởi vì trong điều kiện ngắn hạn ngành than không thể ngay lập tức thay đổi được diện khai thác phù hợp với mức sản lượng này nên tăng sản lượng kéo theo tăng chi phí nhanh hơn sẽ làm cho hiệu quả kinh tế giảm đi.

Nhìn lại những năm đầu của thập kỷ 90, ngành Than càng tăng sản lượng thì hiệu quả kinh tế càng giảm đi. Có thể nói, những năm này ngành than càng sản xuất càng lỗ do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, giá bán than thấp hơn giá thành. Chính vì vậy, đã có lúc ngành than phải có chủ trương đóng bớt cửa mỏ. Điều này được thể hiện trên hình vẽ, ở mức sản lượng thấp (với mức sản lượng khoảng 11 triệu tấn/ năm), đường doanh thu biên thấp hơn đường chi phí biên và đều nằm dưới chi phí bình quân (giá thành 1 tấn than) nên sản xuất không có hiệu quả. Tuy nhiên duy trì sản xuất ở mức sản lượng nhất định tại điểm đường doanh thu biên cắt đường chi phí biên cho phép thu hồi phần nào chi phí cố định đã bỏ ra (mức lỗ thấp nhất).

Tuy nhiên, các chi phí sản xuất chủ yếu bao gồm chi phí khai thác, sàng tuyển và tiêu thụ mà chưa bao gồm chi phí bảo vệ môi trường hoặc có đưa vào chi phí này nhưng còn rất nhỏ không tương xứng với chi phí khắc phục tác động môi trường do ngành mỏ đem đến.

Theo các nghiên cứu của một số tác giả (2) hoạt động khai thác than có nhiều tác động xấu đến môi trường, để lại nhiều hậu quả đối với sinh thái, cảnh quan, môi sinh. Cụ thể là:

- Từ khai thác lộ thiên, sàng tuyển, chế biến than: bề mặt đất đá bị biến dạng và cảnh quan môi trường bị thay đổi bởi các công trình khai thác. Chất thải rắn, bụi, tiếng ồn, làm bồi lấp sông suối, ô nhiễm nguồn nước mặt, ô nhiễm không khí, phá vỡ cảnh quan, rừng, đất canh tác, huỷ hoại hệ thống động thực vật…

- Từ khai thác hầm lò: gây sụt lún bề mặt, biến đổi và ô nhiễm nguồn nước ngầm…

- Từ các hoạt động cơ khí: khí thải từ các thiết bị cơ giới, các chất thải công nghiệp độc hại như phế liệu, dầu mỡ thải, giẻ lau máy, ắc quy hỏng, săm lốp cũ ngày càng nhiều do mở rộng quy mô sản xuất.

Quy mô sản xuất càng lớn, mức ô nhiễm môi trường càng cao, để khắc phục hậu quả môi trường đòi hỏi chi phí ngày một lớn. Nhưng việc tăng chi phí bảo vệ môi trường trong ngành Than mấy năm qua chưa tỷ lệ với mức độ tăng sản lượng nên giá thành sản xuất chưa phản ánh đúng với thực tế mà nó cần phản ánh.

Hơn nữa, sản lượng khai thác còn liên quan nhiều đến trữ lượng tài nguyên mà đặc thù của ngành khai thác khoáng sản là tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt. Trong dài hạn, để tăng sản lượng hay chỉ cần duy trì sản lượng cũng luôn phải đầu tư xuống sâu, đầu tư bổ sung hay xây dựng mỏ mới, khi đó trong các chi phí sản xuất không còn chi phí cố định nữa. Có nghĩa là trong dài hạn tất cả các yếu tố đầu vào của sản xuất đều thay đổi vì vậy việc lựa chọn sản lượng trong thời gian tới phải được xét trong mô hình dài hạn. Tiêu chuẩn lựa chọn sản lượng tối ưu trong dài hạn vẫn là mức sản lượng sao cho giá bán bằng doanh thu biên và bằng chi phí biên dài hạn.

Trong thời gian tới, với điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, chi phí bảo vệ môi trường ngày một lớn nên đường chi phí biên dài hạn sẽ có độ dốc ngày càng cao trong khi giá bán than trên thị trường có xu hướng tăng nhưng chậm hơn chi phí biên. Do đó, trong các năm tới để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, ngành Than cần duy trì tốc độ tăng sản lượng khai thác chậm hơn tốc độ tăng giá than.

Tóm lại, từ cách tiếp cận trên bằng phương pháp luận của kinh tế học có cái nhìn khái quát về hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp và của một ngành kinh tế khi lựa chọn khối lượng sản xuất. Trong phạm vi số liệu đã có về ngành Than với điều kiện sản xuất, thị trường như hiện tại thì ngành Than không nên tăng sản lượng lên quá cao mà chỉ nên duy trì ở mức sản lượng trên dưới 35 triệu tấn/ năm, còn trong dài hạn chỉ nên duy trì tốc độ tăng sản lượng khai thác thấp hơn so với tốc độ tăng giá than trên thị trường.

Tất nhiên, đây chỉ là kết quả được rút ra từ phân tích kinh tế học, việc lựa chọn mức sản lượng không phải là vấn đề đơn giản, nó liên quan đến nhiều vấn đề khác như chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, trữ lượng tài nguyên và chính sách bảo vệ tài nguyên, vấn đề công nghệ, tài chính, thị trường trong và ngoài nước cũng như các vấn đề kinh tế - xã hội khác… mà trong phạm vi bài báo này không đề cập đến.

Tài liệu tham khảo

1. Kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô. Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Thống kê. 2005.

2. Bùi Thị Thu Thuỷ. Phân tích thực trạng công tác quản lý và hạch toán chi phí môi trường trong ngành than Việt Nam . Báo cáo chuyên đề NCS. Trường Đại học Mỏ - Địa chất 2008.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.