Vài nét về chính sách của nhà nước thời chúa Trịnh Tùng đối với Tam giáo
Kinh này đạo pháp chính tông
Xem hòa nhẫn nhục biết thông xa gần.
Phật Tổ hóa độ vật nhân
Tạo thiên lập địa đã phân an bài.
Hương đăng phụng sự đời đời
Nho giáo, Đạo, Thích Như Lai dõi truyền.
Còn Trời còn Bụt còn Tiên
Còn non còn nước mỗi duyên mỗi còn.
Đến thời Lê Trung hưng, khi lên nắm quyền cai quản đất nước, chúa Trịnh Tùng (1570 – 1623) hết sức quan tâm đến Tam giáo. Ông đã phát hiện ra tầm ảnh hưởng của tư tưởng Tam giáo đối với xã hội đương thời, nên đã tìm cách khai thác các yếu tố tích cực trong quan hệ tư tưởng ấy để điều hành đất nước, đồng thời lại biết đặt ra các chính sách phù hợp tạo đà cho tam giáo có thể đứng vững chắc trong xã hội và phát triển đi lên. Đây có thể xem là những chính sách quan trọng của nhà nước thời chúa Trịnh tùng nắm quyền cai quản đất nước đối với Tam giáo.
Khai thác các yếu tố tích cực trong hệ tư tưởng Tam giáo
Các đệ tử của Tam giáo nhiều người được đào tạo cơ bản, có tri thức uyên thâm, có nhiều kinh nghiệm xử lý công việc, nên có những đóng góp tích cực đối với xã hội. Do vậy tư tưởng Tam giáo luôn luôn có ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Ngay trong thời kỳ Lê – Mạc phân tranh, nhà Mạc khi nắm quyền cũng đã biết dựa vào tư tưởng Tam giáo để cai quản đất nước. Nhà Lê Trung hưng cũng vậy, đặc biệt là từ khi Trịnh Tùng thực thụ nắm quyền điều hành đất nước, thì những biểu hiện coi trọng Tam giáo trong các chính sách của nhà nước bấy giờ càng rõ hơn.
Sử dụng các nho thần triều Mạc
Các nho thần thời Mạc nhiều người xuất thân khoa cử, tinh thông Tam giáo. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mụccho biết, tháng 12 năm 1592, Trịnh Tùng dẫn quân đội nhà Lê tiến vào Kinh thành Thăng Long, quân Mạc tan vỡ, nhiều quan lại cao cấp nhà Mạc đến cửa quân xin hàng. Nhà Lê thu nhập 17 viên hàng tướng, hàng quan nhà Mạc, trong đó có nhiều vị có học vị Tiến sĩ đang giữ trọng trách trong triều Mạc, như:
Đỗ Uông, người làng Đoàn Lâm huyện Gia Lộc xứ Hải Dương, thi đỗ Bảng nhãn năm 1556, làm quan đến Thượng thư bộ lại.
Đồng Hàng, người làng Triều Dương huyện Chí Linh xứ Hải Dương, thi đỗ Hoàng giáp năm 1559, làm quan đến Thượng thư bộ công.
Ngô Tháo, người làng Xã Đàn huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên, thi đỗ Tiến sĩ năm 1571, làm quan đến Tả thị lang bộ Hộ.
Nguyễn Lễ, thi đỗ Tiến sĩ năm 1571, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ.
Đoàn Văn Tiết, người làng Lâm Sơn huyện Quế Dương trấn Kinh Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm 1580, làm quan đến Thừa chánh sứ trấn Hải Dương.
Khi về với nhà Lê, các vị nho thần này đều được chúa Trịnh Tùng tin dùng, nhiều người ngay sau đó được giao trọng trách trong triều hoặc cử đi sứ sang nhà Minh, chẳng hạn như Bảng nhãn Đỗ Uông. Tháng 2 năm 1597 Đỗ Uông được bổ nhiệm làm quan Hầu mệnh, cùng với Nguyễn Văn Giai được cử lên biên giới thăm dò tin tức, rồi đến tháng 12 năm đó với chức vụ Thượng thư bộ Hộ kiêm Đông các Đại học sĩ, Đỗ Uông dẫn đầu phái đòan Đại Việt đem hai người bằng vàng và bằng bạc đi lên biên giới tiếp sứ nhà Minh ở Lạng Sơn. Sau ông còn được cử làm Phó sứ sang tận Yên kinh triều kiến vua Minh.
Những ý kiến đóng góp của các vị nho thần này luôn được chúa Trịnh Tùng tiếp thu. Chẳng hạn như tháng 2 năm 1615, viên triều thần là Nguyễn Lễ dâng tờ khải gồm 8 điều trình bày những thói điêu ngoa tệ bạc đương thời. Chúa Trịnh Tùng đọc xong tờ khải đó hết sức vui mừng, liền sai các quan ở Hình bộ thi hành, sau đó thưởng cho Nguyễn Lễ rất hậu.
Đào tạo hàng loạt các nhà khoa bảng mới
Ngay từ khi triều đình nhà Lê còn đặt ở Vạn Lại, chúa Trịnh Tùng đã cho mở khoa thi Hội. Liên tục sau đó ba niên hiệu Quang Hưng, Hoằng Định, Vĩnh Tộ thời gian chúa Trịnh Tùng năm quyền, ông đã tổ chức 13 khoa thi Tiến sĩ, lấy đỗ 80 vị. Nhiều nhà khoa bảng được đào tạo thời kỳ này đã trở thành trụ cột của triều đình, có những đóng góp xứng đáng trong công cuộc tái thiết đất nước như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thực, Nguyễn Tiến Dụng, Nguyễn Đăng, Ngô cung, Lê Nhữ Bật…
Lắng nghe ý kiến can gián của các nho thần Sách Đại Việt sử ký toàn thưcho biết, thời chúa Trịnh Tùng nắm quyền, các đại thần trong triều đã hàng chục lần dâng khải lên trình bày kế sách trị nước. Chúa Trịnh Tùng nghe được hêt sức vui vẻ, thường là đặc cách ban thưởng rất hậu cho họ. Năm 1618 có 3 lần các quan dâng sách lên chúa, được chúa khen thưởng, ví dụ tháng 10 các quan Phú Xuân hầu Ngô Trí Hòa, Diễn Gia hầu Lê Bật Tứ đã dâng tờ khải lên Bình An Vương, nội dung là: “Trộm thấy hạ tuần tháng 9 năm nay có sao Chổi mọc vào giờ Dần ở phương Nam, dài đến hơn 1 trượng, lại có sấm động trái thời. Tháng trước đó lại thấy mưa ra gạo đen, mưa ra cát vàng. Các việc ấy đều là điều quái dị, hẳn là liên can đến chính sự hiện nay. Những việc trái với lẽ thường tổn hại đạo lý ấy khó mà kể ra hết được. Nay bọn thần xin dâng lên kế sách như sau: 1. Sửa đức tốt để cầu mệnh trời. 2. Ngăn quyền hào để nuôi sức dân. 3. Cấm phiền hà để dân đủ sống. 4. Cấm xa xỉ để của dân dồi dào. 5. Dẹp trộm cướp để dân yên ổn. 6. Sửa quan chính để bảo vệ dân. Chăm sóc cơ sở hành đạo của Tam giáo Cho phép xây dựng tôn tạo đình chùa quán Ý thức được tác dụng của Tam giáo Nho Phật Lão đối với xã hội đương thời, nên Bình An Vương đặc biệt quan tâm đến hoạt động của các Tu sĩ và cơ sở hành đạo của họ. Thời chúa Trịnh Tùng nắm quyền, các đền đài miếu quán, chùa chiền được tu sửa xây dựng khang trang. Hiện nay trong kho tư liệu Hán Nôm lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được hàng trăm thác bản văn bai ghi lại điều đó, ví dụ: - Chùa Xuân Vi ở xã Xuân Vũ huyện Gia Khánh (Ninh Bình) tôn tạo năm 1604. - Chùa Thiên Tư Phúc ở Côn Sơn, Chí Linh (Hải Dương) được tu bổ năm 1606. - Chùa Thần Quang ở xã Hành Thiện huyện Giao Thủy (Nam Định) tôn tạo năm 1612. - Chùa Linh Quang xã Mộ Trạch huyện Bình Giang (Hải Dương), tôn tạo năm 1619. - Chùa Bảo Sơn xã An Hoạch huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) tôn tạo năm 1623. - Quán Thiên Tôn xã Khánh Sơn huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) tôn tạo năm 1614. - Quán Tân Dịch xã An Hoạch huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) tôn tạo năm 1616. - Quán Linh Tiên huyện Đan Phượng (Hà Tây) tôn tạo năm 1617. - Quán Huyền Thiên huyện Thọ Xương (Hà Nội) tônt ạo năm 1619. Bảo vệ quyền lợi cho chùa quán Để giúp cho cơ sở hành đạo của Tam giáo hoạt động có hiệu quả hơn, Bình An Vương đã ban cấp hàng hoạt bản lệnh chỉ bảo vệ quyền lợi cho họ. Nội dung các bản lệnh chỉ hết sức phong phú đa dạng, tưụ chung là cho phép dân địa phương có quyền lợi miễn phu phen tạp dịch, hoặc cấp thêm ruộng đất mới, hoặc cho mở chợ Tam bảo lấy thuế chợ cấp cho việc đèn hương thờ Phật. Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được rất nhiều bản lệnh chỉ do Bình An Vương cấp. Thời gian vừa qua, chúng tôi đã tìm được 38 bản. Có bản ghi lại trong sách, có bản khắc trên bia đá. Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về các bản lệnh chỉ này, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu mấy văn bản.
1. Lệnh chỉ cấp cho điện Cổ Pháp Điện Cổ Pháp ở xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn trấn Kinh Bắc thờ Lý Bát Đế, được cấp năm Hoằng Định thứ 5 (1604). Nội dung bản lệnh chỉ này rất dài, do vậy chúng tôi chỉ dịch nghĩa mà không phiên âm: “Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương ban lệnh chỉ cho Vũ Hi là Điện chủ điện Cổ Pháp, do ruộng đất ao vườn ở các xứ Cửa Đô, Mai Tử của điện Cổ Pháp triều Lý gồm 284 mẫu 1 sào nguyên là đất tự điền, cần trả lại cho bản điện, giao cho bản xã thu lấy đất đai ở các xã phụ cận, giao cho mọi người nhận cày cấy để lo việc tế tự, các viên chức không ai được chiếm dụng canh tác. Các xứ Đường Dặm, Trống Lầu, Đồng Cạnh, Thổ Liệt, Thượng Đoàn, Đồng Bồi, Long Vĩ, Đống Cao, Ngõ Lộ, Long Nhãn cùng là xứ Khe Đường, Cây Sung, Đường bến ở phía nam điện Cổ PHáp là khu vực cấm địa phương trong khu lăng, các viên nhân không được xâm phạm như khai khẩn, chặt cây. Nếu có gia cư ở đó thì phải dời ngay đi chỗ khác. Các thân thuộc xã Đình Bảng đã có lệnh cho phép làm dân tạo lệ trông giữ điện để làm nghiêm phép thờ tự. Mọi người trong bản xã hãy chiếu theo số ruộng đất ao vườn mà cha ông mình được nhận để cày cấy lấy hoa lợi lo việc thờ phụng giỗ chạp. Làm như vậy để thấy được đức chính nhân hậu là giúp cho kẻ bị tuyệt diệt có cơ hội được hưng phục khi ban ra lệnh này. Thực là việc làm tốt để làm rõ công đức cao dày to lớn của các bậc đế vương xưa. Đó cũng là lương pháp thiện chính giúp cho các bậc đế vương đời sau vậy. Do vậy, bèn cho khắc chữ vào đá để ca ngợi công đức của tiền triều, âu cũng là thấy được công nghiệp trung hưng đời nay cũng làm rạng rỡ đời xưa. Nhận được lệnh chỉ của chúa phê chuẩn cho ghi vào bia đá để kế nối công đức truyền lại cho đời sau vậy. 2. Lệnh chỉ ban cho phường Nhật Chiêu huyện Thọ Xương (Hà Nội) Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương lệnh chỉ: Quảng đức huyện Nhật Chiêu phường Nguyễn Quang Tước, Nguyễn Phú Nhiêu đẳng, hệ bản phương quan trì nhất khẩu tại Chuyên Tràng xứ tịnh quan thổ thủy quật thành tam khẩu, kỳ Phụng Thiên phủ đẳng quan hữu khải bị khất chuẩn vi Thần từ tế lễ đẳng nhân, dĩ kinh luận ưng phó bản phường thủ khán chuẩn thuế tiền vi lễ vật thông niên ứng hành tế lễ dĩ trọng tự điển. Nhược biệt viên nhân bất đắc thah trở. Vi giả xử tội. Tư lệnh. Nghĩa là: Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương ban lệnh chỉ cho bọn Nguyễn Quang Tước, Nguyễn Phú Nhiêu, nghe nói ở phường ấy có một cái ao công ở xứ Chuyên Tràng và ba miếng đất mới bồi đắp nên, các quan ở phủ Phụng Thiên đã dâng xin dùng làm ao đất tế lễ thánh thần ở đền, lại đã được luận bàn kỹ thấy rằng cần giao cho bản phường coi giữ dùng tiền thuế sắm lễ vật tế lễ quanh năm, cốt để tôn trọng việc thờ cúng. Cấm không ai được cản trở tranh chấp. Kẻ vi phạm sẽ bị xử tội. Nay ban lệnh. 3. Lệnh chỉ ban cho quán Linh Tiên xã Cao Xã huyện Đan Phượng, cấp năm Hoằng Định 17 (1626). Phù Thắng hầu Phạm Thế Mỹ tên tự là Pháp Vũ người xã Bối Tuyến huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng cư trú tại thôn Đồng Mầu giữ chức thái giám ở tòa Nội phủ giám nguyên nhận lệnh chỉ của Đô nguyên sóai Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vuơng trở về điều tra xác thực các xã Cao Xã, Cựu Quán, Trung Thụy, Thượng Thụy. Lệnh chỉ ghi: Tại nơi Linh Tiên quán cổ tích có một đoạn ao Tam bảo, nay giao cho các quán trong nha môn Thừa ty điều tra xác thực quả đúng là khác ao Tam bảo đã bẩm báo lên, nay phản truyền rằng hãy trả lại đoạn ao Tam bảo cho Linh Tiên quán cổ tích, trên từ xứ Cửa ải thuộc địa phận xã Cao Xã. Tất cả giao cho bản quán, hàng năm thu tiền đèn hương và lễ sóc vọng, truyền lại cho muôn đời sau để cúng dâng như Phật, mãi mãi phù giúp đất nước. Lại cho phép bản quán làm việc cầu đạo cho nhà nước tốt lành, dân bản quán được làm dân tạo lệ, hễ có các việc sưu sai đều được miễn trừ. Nay ban lệnh. Các văn bia tham khảo 1.Chúc Thánh Thanh lâu đặng từ điển bi, N 060. 2. Cổ Pháp điện tạo bi, N02021. 3. Linh Tiên quán tu tạo bi, N02240. 4. Phụng lục sao tả nháp bi ký, N0460. 5. Trùng thuyên Huyền Thiên quán bi minh, N0364. 6. Trùng tu Thiên Tôn quá bảo Quang viên bi, N)2676.
|

Lắng nghe ý kiến can gián của các nho thần
1. Lệnh chỉ cấp cho điện Cổ Pháp 






