Ứng xử trong giao tiếp theo truyền thống Tà – Ôi
Đồng bào thường nói:
“ Ơi cái bụng mình đói, cái áo chẳng lành!
Đến làng bạn có hội, mình xin được uống ăn”
Đó là một lời nói ráo đầu để cho khách mỗi khi đến làng bản hoặc vào nhà khỏi phải e ngại, khép nép vì một việc gì đó. Họ cũng không bao giờ phân biệt, dù là khách già - trẻ, trai – gái, sang – hèn…
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi có khách, gia chủ thường vui vẻ mời khách lên sàn. Nhưng trước tiên, gia chủ cho một phụ nữ trong nhà lấy chổi ở trên vách xuống và ý tứ quét nhà một cách nhanh chóng, sạch sẽ. Ở đây, đồng bào có tới 5 loại chổi khác nhau và mỗi loại đều có công dụng riêng. Chổi đót chỉ dùng để quét đi các loại rác rưởi nổi cộm trên sàn nhà. Chổi rành dùng để quét rác ướt ở các góc sàn, sân vườn… Riêng loại chổi dùng để quét khi có khách lên sàn là một bẹ của tàu lá đoác. Khi có một cây đoác nào đó trong vườn có bẹ lá già, và thật khô người ta lấy về, rồi tuỳ theo dài ngắn mà có thể cắt ra sử dụng, có khi chổi dài đến 1m. Phần bẹ nhỏ làm tay cầm, phần bẹ to thì đập dẹp cho tơi xốp rồi tước nhỏ thành sợi, để làm chổi.
Sau khi sàn nhà đã sạch, một loại chiếu (chiếu Ân chát) được trải lên để khách ngồi. Đồng bào rất quý loại chiếu này vì là loại chiếu được đan rất công phu. Chiếu Ân chát ít khi dùng để nằm mà chủ yếu để mời khách ngồi, làm quà cưới cho con gái và trải trong các ngày hội để già làng ngồi làm lễ cúng bái.
Sau khi yên vị, trong lúc ông chủ ngồi trò chuyện với khách thì bà chủ lấy thang tre bắc lên tra đem chuối xuống mời khách. Khách có thể được mời thêm bắp nướng, sấu nấu, mía… dù sao khách cũng nên ăn một chút để gia chủ được vui lòng. Đôi khi gia chủ có thể thiếu cơm, nhưng khách đã đến nhà thì bao giờ cũng được tiếp đã đầy đủ. Họ sẵn sàng nhường cho khách và cố gắng làm thêm những món ngon, đặc trưng của gia đình để mời khách.
Khi gia đình có khách, bà chủ thường lấy loại gạo ngon như Ra dư, Cu da… để làm cơm, và có thể còn phải đi vay mượn hoặc đi mua cá khô, thịt khô gần đó đem về đãi khách.
Trong bữa ăn, ít khi gia chủ ngồi chung với khách. Nếu khách nài nỉ muốn gia chủ cùng ăn thì chỉ có người chồng, song họ cũng ăn cầm chừng. Theo họ quan niệm ở đây, khách gì cũng là khách, do họ đi xa mỏi mệt, đói bụng nên ăn nhiều, còn mình là chủ, có thể ăn khi nào cũng được.
Thức uống chủ yếu để mời khách là rượu. Rượu của người Tà – Ôi có tới 10 loại. Đó là rượu đoác, rượu sắn, rượu mía, rượu gạo, rượu nếp, rượu thuốc, rượu mây, rượu kê, rượu cần, rượu dừa. Tuỳ theo khả năng của từng nhà mà gia chủ có thể đãi khách những thứ rượu sẵn có.
Nét đặc biệt ở người Tà – ôi là, mỗi khi có khách đến nhà thì họ thường nói “ Ăn miếng chơi, uống miếng rượu đoác”. Để cho khách khỏi từ chối uống rượu, họ nói thêm:
“ Rượu dở mình cũng không chê
Vì tình cảm, rượu chua mình cũng uống”.
Đây là lời nói mang tính động viên khách hãy đón nhận tấm lòng của gia chủ.
Đồng bào Tà - ôi không bao giờ ép khách uống nhiều rượu mà để tuỳ thuộc vào sức khoẻ của khách. Nhưng dù sao, khách cũng nên uống với chủ nhà một ly. Đồng bào Tà – ôi thường dặn nhau rằng: “ Này người anh em ơi! Đã cùng ngồi uống rượu; Có gì buồn trong bụnmg, Anh hát cho tôi biết”.
Và thế sau lời gợi mở đó, khách với chủ càng thêm thắm thiết. Khách có thể kể cho chủ nghe những câu chuyện buồn, vui trong đường làm ăn, vợ chồng con cái, cách ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Còn gia chủ thì say sưa kể chuyện cộng đồng làng xóm, gia tộc, gia đình và những câu chuyện cổ xưa đầy tính triết lý và nhân văn, truyền lại những tri thức dân gian xưa mà nay đang có phần bị mai một trước xã hội hiện đại.
Vào dịp tiếp khách đó, vợ con, người thân của gia chủ nếu không có việc gì thì họ quây quần bên bếp lửa để nghe câu chuyện của mọi người. Và đôi lúc cũng tham gia ít nhiều vào cuộc trò chuyện với khách.
Bếp trong nhà bao giờ cũng đỏ lửa, nhất là khi gia đình đang có khách.
Thông thường sau bữa cơm - rượu khách được mời uống nước. Trong gia đình người Tà – ôi rất ít khi dùng nước sôi để nguội. Họ thường uống nước chè xanh, lá nhân trần đun sôi. Nước thường nấu trong nồi to đậy kín và luôn vần bên bếp lửa để giữ độ ấm trong cả ngày.
Nước được uống bằng chén (bát con). Để rót nước cho khách thì bà chủ rửa chén thật sạch và hơ lửa cho mau ráo nước rồi múc ra từng chén, mời khách trước, rồi mới mời chồng.
Nước thừa trong chén, không bao giờ đổ xuống sàn nhà mà hắt vào bếp.
Sau một cuộc trò chuyện với gia chủ, khách ra về thường được tặng quà mang theo, có thể là vài quả dưa, nải chuối, vài khúc mía. Nếu khách từ chối thì vô tình đã làm họ nghĩ khác và rất buồn; nếu khách vô tư nhận thì sẽ không bao giờ phải áy náy về sự thịnh tình của gia chủ.
Đồng bào Tà – ôi không có lệ tiễn khách, nhưng lúc chia tay, họ thường ngồi bên sàn nhà nhìn với ánh mắt quyến luyến, nhân hậu, những mong khách có dịp trở lại.
Đón khách là một việc, nhưng tiếp khách lại hệ trọng hơn. Khi đến với đồng bào người Tà – ôi, chúng ta nghĩ việc tiếp khách của họ thật là đơn giản nhưng nhìn thấu đáo sẽ nhận thấy ở đồng bào có lối sống cởi mở, hiếu khách. Đó là một nét văn hoá truyền thống mà cho đến tận bây giờ, vẫn còn lưu giữ được.








