Ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ hành tinh
Sự nóng lên toàn cầu do nồng độ của các khí nhà kính (chủ yếu là khí CO 2) trong khí quyển Trái đất tăng nhanh, lượng khí CO 2trên toàn thế giới tăng lên 70% từ 1970 đến năm 2004. Do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) trong vài thập kỷ qua đã gây bao hiểm hoạ cho cuộc sống con người: lũ lụt, hạn hán, băng tan, nước biển dâng, sóng thần, động đất, cháy rừng, sạt lở đất, mất mùa, bão, lốc… đã diễn ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng hơn. BĐKH ảnh hưởng đến những yếu tố cơ bản của cuộc sống của người dân trên thế giới về tiếp cận các nguồn nước, sản xuất lương thực, sức khoẻ và môi trường, hàng trăm triệu người có thể sẽ lâm vào cảnh đói nghèo, thiếu nước và ngập lụt ở ven biển. Những tác động này làm cho các nước đều bị ảnh hưởng, nhưng chịu hiểm họa nhiều nhất lại là những nước và cộng đồng dân cư nghèo nhất, mà lại là những nước “đóng góp” vào nguyên nhân gây biến đổi khí hậu ít nhất! Theo thống kê năm 2003 của Liên Hiệp quốc về thiệt hại vì thiên tai do BĐKH trong hai thập kỷ vừa qua đã có 3 triệu người chết, 200 triệu người bị ảnh hưởng. Thiệt hại hàng năm do thiên tai ước tính 40 tỷ đôla. Nếu không có biện pháp có hiệu quả để giảm lượng khí thải hàng năm trên toàn cầu, thì theo dự kiến 50 năm sau, thiên tai sẽ tăng gấp 4 lần và số người bị ảnh hưởng có thể lên đến 2 tỷ người. Do hậu quả băng tan ở hai cực trái đất, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị chìm ngập vì nước biển dâng. Qua tính toán, mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng, theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippines . Trong 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất sẽ có 21 thành phố có nguy cơ bị nước nhấn chìm toàn bộ hoặc một bộ phận. Đây là một nguy cơ rất lớn.
Phải nói rằng, vấn đề “biến đổi khí hậu”, “trái đất nóng lên”, thời gian qua trên thế giới không dễ gì được nhất trí về nhận thức. Nay đã có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy vấn đề BĐKH và Trái đất đang nóng lên là một thực tế nhãn tiền. Ông Achim Steiner, giám đốc Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) đã nói: Chúng ta đã mất hơn 30 năm để tranh cãi xem có đúng là trái đất đang ấm lên hay không? Giá như lúc ấy chúng ta hành động ngay thì cái giá của cuộc tranh cãi kéo dài tới 30 năm ấy đã không quá cao như bây giờ. Bây giờ thì chúng ta không còn thời gian để tranh cãi nữa. Chúng ta cũng không thể chuyển vấn đề này cho thế hệ sau quyết định.
Trước tình hình khẩn cấp như vậy, điều quan trọng là phải tìm được các giải pháp để ứng phó với nó. Sự thích ứng với BĐKH là một quá trình, qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đối với sức khoẻ, đời sống, đồng thời sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Đặc biệt đối với các nước nghèo, thì việc thích ứng với BĐKH là một vấn đề sống còn.
Nói đến thích ứng với BĐKH, chúng ta không thể tiêu cực, thụ động mà phải hành động tích cực, chủ động. Theo Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH của LHQ (IPCC) , thái độ thụ động có nghĩa là chấp nhận tổn thất, chỉ chờ đợi mà không làm gì cả, nếu có cũng chỉ là chia sẻ tổn thất giữa cộng đồng và dân cư; còn với thái độ tích cực chủ động, chúng ta sẽ tìm biện pháp để làm giảm nhẹ nguy cơ của BĐKH, ngăn ngừa các tác động, thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động BĐKH và bất ổn của khí hậu. Khi BĐKH làm cho các hoạt động kinh tế không thể thực hiện được thì thay đổi cách sử dụng, hoặc di chuyển địa điểm của các hoạt động kinh tế; đồng thời nghiên cứu phát triển công nghệ mới và phương pháp mới để thích ứng. Một điều rất quan trọng là cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, và khuyến khích thay đổi hành vi bằng cách phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục để nhằm làm thay đổi thói quen và hành vi có hại. Có thể nêu một vài ví dụ về giải pháp thích ứng với BĐKH: Để bảo vệ các thành phố và công trình, người ta xây dựng các công trình bảo vệ, về mặt quy hoạch người ta di chuyển công trình hoặc nâng cao cốt của công trình. Để bảo vệ hệ sinh thái có nguy cơ cao, dùng biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, kiểm soát nguồn ô nhiễm và việc đánh bắt quá mức, và điều quan trọng là nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Để bảo vệ nguồn nước, cần có chính sách tiết kiệm nước, tận dụng tích trữ nước mưa, sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn nước ngầm. Để kiểm soát xói lở đất, người ta xây dựng bản đồ thiên tai vùng ven bờ, trồng rừng ngập mặn, quy hoạch đường sá thích hợp, xây dựng đê biển, v.v…
Ứng phó với BĐKH cũng là việc tiến hành những bước đi để xây dựng khả năng phục hồi tổn thất và giảm thiểu chi phí. Chẳng hạn như cung cấp thông tin tốt hơn, cải tiến việc lập kế hoạch, chọn ra những giống cây trồng thích hợp, tạo ra cơ sở hạ tầng chống chịu được với tác động của BĐKH. Hoặc như có thể giảm lượng khí thải thông qua việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng, thay đổi nhu cầu, thông qua việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất điện năng, sưởi ấm và vận tải sạch. Ngoài việc giảm thiểu khí thải của công nghiệp gây ra thì cần có hành động bảo vệ rừng, chống nạn phá rừng và cháy rừng. Sự mất rừng tự nhiên trên toàn thế giới góp phần tăng lượng khí thải trên toàn cầu hàng năm nhiều hơn sự đóng góp khí thải của ngành giao thông vận tải.
Người ta đã ước tính rằng, nếu chúng ta không hành động, thì tổng chi phí và những rủi ro do BĐKH gây ra sẽ tương đương với việc mất ít nhất là 5% tổng sản phẩm quốc dân toàn cầu (GDP)/năm. Con số thiệt hại này có thể tăng lên đến 20% nếu như một loạt rủi ro không được xem xét để ứng phó. Nhưng nếu như chi phí cho hành động để giảm thiểu lượng khí nhà kính để tránh tác động tồi tệ nhất do BĐKH thì có thể chỉ chiếm khoảng 1% GDP toàn cầu/năm.
Việt Nam nằm trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất do hiểm hoạ của BĐKH và mực nước biển dâng. Các lĩnh vực, các ngành, các địa phương dễ bị thương tổn và chịu tác động mạnh mẽ nhất là nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khoẻ, các vùng đồng bằng và dải ven biển, nguồn tài nguyên nước. Theo Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường thì trong thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trung bình cứ mỗi thập kỷ tăng lên 0,1 0C, riêng trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0,1 0C - 0,3 0C/thập kỷ, còn mực nước biển dâng từ 2,5 - 3 cm trong một thập kỷ. Người ta ước tính nếu mực nước biển dâng cao lên 1m thì nước ta sẽ mất đến 12% diện tích đất đai là nơi cư trú của 23% số dân cư. Các trận bão thường xuyên xảy ra hơn và mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Diện tích rộng lớn của đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và ven biển miền Trung đều bị ngập. Diện tích rừng ngập mặn sẽ bị thay đổi, ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các khu vực rừng ngập mặn ở Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nam Định… Ranh giới rừng nguyên sinh và thứ sinh có thể bị chuyển dịch, nguy cơ tuyệt chủng của động thực vật và các nguồn gien quí hiếm, tăng thêm nạn cháy rừng, phát tán dịch bệnh. Các hải cảng, giàn khoan dầu bị tác động, chế độ thuỷ văn không ổn định, năng lượng tiêu thụ nhiều hơn… Cũng do tác động của BĐKH mà trong 3 thập kỷ qua đã xuất hiện hàng chục căn bệnh mới lạ chưa từng thấy. Có nhiều bệnh trước kia chỉ khu trú trên một khu vực hẹp nay bỗng nhiên lan toả ra toàn cầu.
Nhận thức được mối nguy cơ và hiểm hoạ của BĐKH, Chính phủ Việt Namđã sớm tham gia và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto và Công ước Khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKHđã được ban hành theo Quyết định số 158/2008 QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu chiến lược của Chương trình là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH đối với từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương trong từng giai đoạn. Trên cơ sở đó xây dựng một chương trình hành động với quan điểm ứng phó với BĐKH trên nguyên tắc phát triển bền vững đất nước, không để bị động mà cần phải chủ động phòng ngừa. Việc ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các ngành các cấp, của mọi tổ chức và mọi người dân. Cần có sự đồng thuận và quyết tâm cao để thực hiện trong từng địa phương, quốc gia, từng châu lục cho đến toàn cầu. Nội dung hành động ứng phó với BĐKH phải được thể hiện trong các chương trình chiến lược, trong các quy hoạch kế hoạch phát triển của các ngành và các địa phương, và được thể chế hoá bằng các hệ thống pháp qui để tổ chức thực hiện. Với Chương trình này các ngành và địa phương đang nghiên cứu để đề xuất một kế hoạch hành động cho ngành và địa phương mình.
Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là bàn cãi liệu trái đất có đang nóng lên và biến đổi khí hậu có đang diễn ra hay không, mà là liệu trước tình hình khẩn thiết này chúng ta có thể thay đổi được thái độ và hành động có đủ nhanh hay không. Có thể thấy rằng không thể ngăn cản được BĐKH sẽ diễn ra trong hai, ba thập kỷ tới, nhưng nếu chúng ta tích cực tìm các giải pháp để thích ứng thì vẫn có khả năng bảo vệ được con người và nền kinh tế của chúng ta khỏi những tác động trong chừng mực tương ứng với nỗ lực của chúng ta.








