Ứng dụng thử nghiệm IgA/VCA và nghiệm pháp phết tế bào vòm họng - Tăng khả năng phát hiện, điều trị hiệu quả ung thư vòm họng
Ung thư vòm họng (UTVH) là bệnh ung thư của vùng đầu mặt cổ, xuất hiện phổ biến ở Việt Nam . Khối ung thư phát triển trong vùng vòm họng, ở một khu vực hẹp từ cửa mũi sau đến ngang tầng họng miệng, ngay dưới nền sọ. Vị trí này là cửa ngõ liên thông với nhiều cơ quan khác như mũi, tai, họng, miệng, mắt, các xoang mặt... Vì vậy, các triệu chứng của UTVH thường là biểu hiện bệnh lý của các cơ quan trên như: nhức đầu, ù tai, nghẹt mũi, chảy máu mũi tái lại nhiều lần, lé mắt, nổi hạch cổ... Chính vì vậy, bệnh nhân thường dễ bị chẩn đoán nhầm với một số bệnh lý thông thường của tai, mũi, họng. Khi bệnh nhân được phát hiện bệnh thì thường đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn III và IV). Điều này ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của điều trị, khả năng tái phát và tử vong đối với bệnh nhân.
Bệnh nhân UTVH được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tỷ lệ khống chế được bệnh bằng tia xạ và hóa chất là rất cao. Vấn đề là làm thế nào để chẩn đoán sớm được bệnh. Thông thường, bệnh nhân nghi UTVH được bác sĩ chẩn đoán dựa trên các triệu chứng lâm sàng kết hợp với các phương tiện khác như nội soi vòm họng, chụp X quang... Nếu bệnh nhân đã có xuất hiện khối u ở vòm họng thì sẽ được tiến hành lấy tế bào khối u để làm xét nghiệm. Xét nghiệm này giúp các bác sĩ chẩn đoán chính xác bệnh. Tuy nhiên, việc phát hiện được khối u ở vòm họng của bệnh nhân cũng gần như là nghĩa với khả năng bệnh đã ở trong giai đoạn toàn phát, có nghĩa là hiệu quả khống chế được bệnh chỉ còn ở mức trung bình.
Công trình nghiên cứu “Ứng dụng thử nghiệm IgA/VCA và nghiệm pháp phết tế bào vòm họng trong chẩn đoán sớm UTVH tại Bệnh viện Tai Mũi họng Cần Thơ” của tiến sĩ Ngọc Dung đã góp thêm hai biện pháp chẩn đoán sớm cho bệnh UTVH. Đó là thử nghiệm IgA/VCA để phát hiện kháng thể IgA chống kháng nguyên vỏ VCA (Viral Capsid Antigen) của virus Epstein Barr (EB) trong huyết thanh bệnh nhân UTVH. Nghiệm pháp phết tế bào vòm họng là lấy tế bào tróc của vùng vòm họng để làm xét nghiệm tìm tế bào biến chuyển ác tính của vòm họng. Hai nghiệm pháp này có thể giúp chẩn đoán bệnh UTVH ngay từ khi bệnh nhân chưa xuất hiện khối u hoặc khối u chỉ là một vùng phù nề, gồ lên ở vùng vòm họng.
Theo Tiến sĩ Ngọc Dung, cơ sở khoa học cho việc ứng dụng 2 biện pháp này xuất phát từ kết quả các nghiên cứu về bệnh sinh học UTVH, cho thấy sự phát triển UTVH phụ thuộc vào 3 yếu tố chính là di truyền, thói quen dinh dưỡng và môi trường. Tiến sĩ Trần Ngọc Dung đã tiến hành thử nghiệm tìm kháng thể IgA chống VCA trên 109 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi UTVH đến khám tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ, từ tháng 9-2002 đến tháng 9-2004. Kết quả ghi nhận, có 70/109 bệnh nhân đã xuất hiện khối u vòm họng (qua nội soi) và có đến 72/109 bệnh nhân có kết quả dương tính khi làm thử nghiệm IgA/VCA. Đa số bệnh nhân là nông dân sống ở các huyện ngoại thành TP Cần Thơ.
Bác sĩ chuyên khoa II, Tạ Văn Cát, Giám đốc Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ, người tham gia trực tiếp theo dõi bệnh nhân trong đề tài nghiên cứu này, cho biết: “Thử nghiệm IgA/VCA không chỉ có giá trị cho việc phát hiện được những đối tượng có nguy cơ cao với UTVH mà còn giúp bác sĩ theo dõi tình trạng của bệnh nhân sau khi điều trị, để có hướng dự phòng tái phát bệnh”. Điều mà tiến sĩ Ngọc Dung và cả bác sĩ Cát băn khoăn hiện nay là tại TP Cần Thơ chưa có phương tiện để điều trị UTVH. Đa số bệnh nhân khi được phát hiện khối u vòm hoặc chẩn đoán nghi ngờ UTVH đều được chuyển lên Bệnh viện Ung Bướu (TP Hồ Chí Minh) để điều trị và theo dõi. Mặt khác, thử nghiệm có thể phát hiện bệnh nhân nhiễm virus khi còn rất sớm nên phải đưa vào chế độ theo dõi định kỳ để phát hiện bệnh. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân thường bỏ dỡ việc theo dõi và chỉ trở lại khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Thực tế này cho thấy, việc tuyên truyền kiến thức về bệnh ung thư vòm họng cho người dân là điều hết sức cần thiết.
Theo tiến sĩ Trần Ngọc Dung, công trình này giúp cho nhóm nghiên cứu có cái nhìn ban đầu về UTVH ở khu vực ĐBSCL nói chung và ở Cần Thơ nói riêng. Đồng thời, công trình cũng giúp cho nhóm nghiên cứu nhận định về tính khả thi của việc triển khai các thử nghiệm IgA/ VCA tại TP Cần Thơ. Đề tài còn là 1 trong 2 công trình nghiên cứu trong ngành y tế của thành phố Cần Thơ được Hội đồng Khoa học Công nghệ thành phố đề nghị Bộ Khoa học Công nghệ khen thưởng năm 2006.
Khi nói về lợi ích của thử nghiệm IgA/VCA đối với việc theo dõi tình trạng tái phát của bệnh nhân sau điều trị, tiến sĩ Dung thường nhắc đến chuyện của một bệnh nhân tại Hà Nội. Trong khoảng thời gian bác sĩ Dung thực hiện luận án tiến sĩ tại Hà Nội, có một bệnh nhân UTVH đã được điều trị bằng tia xạ. Mặc dù kết quả xạ trị rất tốt, nhưng thử nghiệm IgA/VCA vẫn cho kết quả dương tính. Theo yêu cầu của bác sĩ Dung, bác sĩ điều trị phải hẹn bệnh nhân tái khám định kỳ 3 tháng/lần để theo dõi tái phát. Sau 3 lần tái khám, kết quả thử nghiệm IgA/VCA vẫn không khả quan mặc dù sức khỏe tỏ ra vẫn bình thường. Điều này làm bác sĩ điều trị hơi nghi ngờ kết quả thử nghiệm. Đến tháng thứ 10 sau điều trị, bệnh nhân tự quay lại bệnh viện, trong tình trạng khối u tái phát kèm di căn ở các cơ quan khác. Nằm trên giường bệnh, bệnh nhân nói lên nguyện vọng sau cùng với bác sĩ Dung: “Bây giờ bác sĩ có cần nghiên cứu gì ở tôi thì tôi cũng sẵn sàng. Tôi hy vọng bác sĩ nghiên cứu thành công để không ai phải chết như tôi vì bệnh này”.
Trong thời gian này, để khắc phục những hạn chế của thử nghiệm IgA/VCA và cũng theo xu hướng phát triển của y học hiện đại, khuyến khích việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh, tiến sĩ Ngọc Dung đang tiến hành những bước đầu cho công trình tiếp sau về UTVH. Tiến sĩ Ngọc Dung còn cho biết thêm: “Chúng tôi dự kiến sẽ triển khai một nghiên cứu sàng lọc UTVH trong cộng đồng, đáp ứng yêu cầu phát hiện sớm ung thư trong chiến lược phòng chống ung thư của ngành y tế địa phương. Ở đề tài này, chúng tôi vừa ứng dụng kỹ thuật IgA/VCA để sàng lọc bệnh vừa thực hiện kỹ thuật gien học vào chẩn đoán chính xác UTVH cho những đối tượng có nguy cơ cao”.








