Ứng dụng công nghệ thông tin trong y học
Mạng lưới máy tính ra đời, trước tiên có các mạng phục vụ nội bộ bệnh viện. Sau đó, với việc kết nối từ xa, người ta kết nối các mạng bệnh viện với nhau, nhằm khai thác tiềm năng của các bệnh viện riêng lẻ thành một khối thống nhất. Nhiều lĩnh vực mới như X quang từ xa (teleradiology), chẩn đoán từ xa (telediagnostic), tham vấn từ xa (teleconsulting), bệnh học da từ xa (teledermatology)… được gọi chung là y học từ xa;đã phát triển và giúp ích cho bệnh nhân rất nhiều.
Chẩn đoán hình ảnh rất quan trọng trong y học hiện đại, các mạng máy tính giúp lưu trữ, và truyền các hình ảnh: X quang, CT scanner, MRI… về các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành, để các chuyên gia thực hiện chẩn đoán bệnh và đưa ra phương pháp điều trị từ xa, kết quả được gởi trả về bệnh nhân đang điều trị bệnh nhân. Vì khám bệnh da chủ yếu dựa vào nhìn vào nơi tổn thương, nhìn hình ảnh mô bệnh học; nên lĩnh vực da liễu từ xa cũng phát triển và đã thành lập mạng lưới ở châu Á. Y học từ xa còn được áp dụng vào hội chẩn đa trung tâm, có thể gởi hồ sơ bệnh án qua mạng (gọi là bệnh án điện tử) để đến các chuyên viên ở nhiều nơi trên thế giới.
Nhược điểm của y học từ xa là không có tiếp xúc trực tiếp giữa thầy thuốc và bệnh nhân, nên thiếu sự đồng cảm giữa hai bên.

Ở các nước phát triển, y học từ xa rất quen thuộc với mọi người. Thí dụ: Trung tâm Teleradiology ở Tokyo (Nhật) đã kết nối với 40 bệnh viện để cung cấp các dịch vụ chẩn đoán hình ảnh X quang, cộng hưởng từ hạt nhân và đọc hình ảnh CT scanner. Hiện nay, đã có các đường kết nối giữa các trung tâm y khoa tại Nhật với Mỹ và một số nước khác. 






