Tưởng nhớ cụ Nguyễn Văn Tố
Cụ Nguyễn Văn Tố vốn là chủ sự Đông Phương Bác Cổ học viện (tức Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, EFEO). Cụ vào làm việc ở viện này sau khi đỗ bằng thông ngôn ở trường Bưởi ra. Trường này khi mới lập, cách đây hơn nửa thế kỷ tên là Collège des Interprètes, dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, chữ Hán cho các học sinh để sau khi tốt nghiệp sẽ làm nghề thư ký thông ngôn.
Ở trường Bác Cổ, cụ đã làm công việc mà ít ai làm nổi. Tôi phục cụ ở điểm này: ấy là cụ đã làm thư ký toà soạn bộ Kỷ yếucủa Đông Phương Bác cổ Học viện (Bullentin de l’Ecole Frâncise d’Extrême Orient) trong khi chỉ là nhân viên phụ tá (Assistant) như tôi.
Cụ làm việc suốt ngày, trưa ở lại sở, tối mới về nhà ăn cơm. Phòng giấy của cụ ở ngay cầu thang đi lên, bé như cái chuồng chim. Trên một cái bàn thật to, ngổn ngang những sách chữ Hán, chữ Pháp, những bản thảo của cụ, những bản đánh máy, những bản ráp nhà in đưa cụ để sửa chữa. Một ông đồ ngồi né ở phía bàn dịch sách cho cụ. Cụ có khách luôn vì ông giám đốc George Coedes (1) thảy hết các công việc tiếp khách cho cụ. Các công văn cụ cũng thảo lấy hết, được cụ coi các công việc hành chính, ông giám đốc thảnh thơi lắm. Bác sĩ Hurad thường luôn luôn đến hỏi tài liệu hay mượn sách, đã nói với tôi đại khái như sau này “Ông George Coedès chẳng phải làm việc gì cả, chính ông Tố làm đủ cả các công việc. Đó là một sự thực mà ai cũng phải công nhận”. Cha Cadière có bảo tôi, ở Huế ít lâu trước khi cha mất: “Nguyễn Văn Tố đã viết nhiều lắm. Trong tạp chí Tri tân.Các bài đọc khô khan nhưng thật là những nguồn tài iệu vô cùng quý giá rất ích lợi cho những người khảo cứu. Đấy mới thật là một học giả. Tiếc thay đã chết oan. Sau này ông cho thu thập những bài của Nguyễn Văn Tố mà cho in lại ấy là ông có công lắm đấy”.
Phòng làm việc của tôi ở gần phòng cụ. Hàng ngày tôi quấy cụ. Cụ đọc rất nhiều sách và có một trí nhớ lạ lùng. Sau khi tôi khảo cứu kỹ một vấn đề, tôi trình cụ bản thảo.
- Phiền cụ xem hộ cháu bài này. Chắc còn phải sửa chữa nhiều.
Cụ cười ha hả:
- Ông còn trẻ, việc gì mà vội, mà sợ mất công sửa chữa. Chắc ông nhớ câu này của Lafontaine:
- Travaliez, prenez de la peine,
C’est le fonds qui manque les moins.
Và câu này của Boileau:
Vingt fois sur le métier, remettez votre ouvrage,
Polissez le sans cesse et sans cesse le repolissez.
Rồi cụ nói tiếp:
- Ông để tôi xem độ năm hôm, ông sang lấy được không? Tôi chữa đè lên chữ ông được không?
Cụ chữa xong bài của tôi, kèm theo vài trang ghi những nhận xét của cụ, rồi cụ đưa tuỳ phái chuyển sang phòng tôi.
Tôi còn nhớ cảm tưởng đầu tiên của tôi khi tôi lạt từng trang một.
Tôi giận lắm và tôi nói một mình: “Thật là một anh đồ già! Thế này còn ra cái gì nữa! Chữa hết! Chẳng thà vứt đi cho xong”.
Cụ chữa bài bằng mực đỏ làm đỏ hoe cả bài, bên lề cụ ghi rõ lỗi thuộc loại nào. Tôi trước giận cụ nhưng khi đọc kỹ tôi giận tôi và tự bảo:
“Giải nghệ đi cho xong! Cử nhân văn chương Pháp mà danh từ dùng không đúng, văn phạm sai, khảo cứu sử mà tài liệu thiếu sót, trình bày lại vùng về, để cho một ông thư ký già chỉ có bằng Cao đẳng tiểu học, phải chữa từng câu, từng chữ một, thời thực là nhục lắm”.
Tôi ngồi nghĩ vơ nghĩ vẩn. Nghe tiếng gõ cửa, tôi mở cửa, ông giám đốc đi vào.
- Ông đương bận việc?
- Thưa ông giám đốc, tôi bực mình lắm! Đây, ông xem.
Rồi tôi đưa ông giám đốc bài của tôi mà cụ Tố đã chữa. Ông ấy cầm xem qua rồi kéo ghế ngồi trước mặt tôi, mỉm cười và dạy đại khái như sau:
- Ông bạn trẻ của tôi ơi! Ông đừng lấy làm buồn. Văn Pháp không phải dễ viết cho hay và nghề khảo cứu không phải dễ mà làm. Ông còn trẻ, cố gắng đi. Ông có tất cả một đời người để học hỏi. Ông Tố chữa bài cho ông như thế này là ông Tố quí ông lắm đấy. Ông phải cảm ơn ông ấy và đừng mất lòng, cũng đừng chán nản. À ông có biết chuyện Bezacier (2) không? Bezacier nhân viên vĩnh viễn của trường có đưa tôi một bài để đăng. Tôi chuyển sang ông Tố. Tôi tưởng ông Tố chữa rồi trả lại để tôi xem lại và cho in. Ông Tố sau mấy hôm trả lại tôi, không chữa một chữ nào cả.
- Thế nào ông Tố?
- Ông muốn cho in thì cho in, có gì phải sữa chữa xin ông sửa chữa lấy.
- Tôi hiểu ông rồi! Bài này không cho in được có phải không?
- Thưa ông giám đốc, khảo cứu đã sơ sài lại sai lầm, lời văn không tha thứ được. Nhiều lỗi quá.
Thế là bỏ trọn bài. Ấy ông Tố tốt với tôi lắm đấy chứ! Người thực thà lắm.
- Dạ.
Ông Coedes cười rồi lại bảo tôi:
- Có một lần tôi đưa bài của tôi để ông ấy đăng. Mười hôm sau ông ấy bảo tôi:
- “Thưa ông giám đốc, ông đã xem kỹ lại bài của ông chưa?”
- Kỹ lắm, sao vậy?
- Có lẽ phải chữa nhiều.
- À, tôi hiểu rồi, ông Tố ơi! Xin ông cứ chữa đi cho tôi. Nếu sau này có ai chỉ trích một điểm gì là lỗi tại ông đấy nhé!
Ấy thế là ông Tố chữa. Ông Tố đã học giỏi lại tốt bụng. Nếu tôi không có ông ấy phụ tá thời tôi làm nhân viên còn hơn làm giám đốc, để được nhẹ mình. Ông Lâu ơi! Ông còn trẻ, nên chịu khó học tập. Đừng để cho ông ấy ghét mà bỏ rơi thời sẽ khó cho ông lắm đấy.
Bây giờ tôi viết bài này, phải tự chữa lấy, thật là buồn…
Cách mạng nổi lên, cụ Nguyễn Văn Tố được mời ra làm Bộ trưởng Bộ Xã hội năm 1945. Cụ lấy ngay một phòng ở trường Bác Cổ để cụ làm việc với mấy anh em cán bộ. Cụ cứ lúi húi cả ngày ở đây, chẳng tiếp ai cả.
Một hôm tôi gõ cửa rồi tự nhiên đi vào.
- À, chào ông Lâu! Ông bận nhiều việc thì phải? Nào là Ngoại kiều vụ, nào là Thống kê.
- Thưa vâng, công việc đã nhiều lại khó, nhân viên đã ít lại kém.
- Sao ông lại nói thế! Chưa làm được gì đã chán nản rồi? Công việc không có ta phải bới ra mà làm và dù khó đến đâu ta cũng phải có một giải quyết mà tự ta định đoạt, Chính phủ đặt người đúng chỗ lắm đấy chứ! Chúng ta từ trước đến nay chỉ là những anh mọt sách, bây giờ có công việc cho Quốc gia dù công việc nhiều khó như thế nào cũng phải cố mà làm. Thôi chào ông! À, ta hoà với Pháp nhưng nếu một ngày kia mà chiến thời chúng ta gặp nhau ở một nơi nào đấy… Chúng ta gặp nhau ở Việt Bắc.
Đi thuyền ngược sông Lô qua Bắc Mục, độ nửa ngày đến một cái bến, ở bên tai phải (tức tả ngạn sông, nếu là thuyền xuôi) tên Nôm là Thụt, thuộc xã Phù Loan. Có hai dãy nhà sát vách nhau, chạy song song với sông ở hai bên một cái sân đất rộng đến hai mươi mét. Sân này dùng làm chợ, không có quán. Mỗi ngôi nhà lá chỉ có một hay hai gian bề mặt nhưng dài chia làm hai hay ba lớp. Có một hiệu tạp hoá của người Tàu và một của người Kinh. Một dãy toàn người Kinh, một dãy toàn người Tàu.
Nguyên trước khi kháng chiến phố Thụt buôn bán sầm uất.
Các lái gỗ từ đường xuôi đến đây đặt hàng. Gỗ đóng bè rồi thả xuống Tuyên Quang về Hà Nội và có khi về mãi Nam Định.
Người Kinh ở đây phần nhiều là dân công giáo, Thái Bình, Nam Định. Họ có làm một nhà thờ bằng lá, một cái trường học. Cha xứ ở Tuyên Quang thỉnh thoảng mới lên để làm lễ vì xa quá.
Tôi tản cư lên Thụt. Những ngày tối trời, tôi đi vào các làng người Thổ, người Mán chơi, nhân thể khảo cứu về nhân sinh địa lý.
Một hômg khoảng tháng 4, tháng 5, năm 1946, ông chủ nhà tôi trọ có cho tôi biết có cụ Nguyễn Văn Tố qua đây và ngủ lại đêm ở nhà thôn trưởng.
Tôi vội chạy sang nhà thôn trưởng, thấy cụ nằm trên phản.
Vẫn cái áo bông the dài, cái khăn xếp để bên cạnh cái gối gỗ. Một đĩa đèn dầu lạc để trên giường cạnh cụ. Tôi thấy cụ nằm như ngủ, không dám đánh thức cụ dậy. Tôi vẫy người liên lạc ra ngoài cửa và nói chuyện.
- Chắc cụ đi đường mệt lắm?
- Vâng. Đi đến mười hôm nay rồi. Đến cháu trẻ mà còn mệt, huống chi là cụ.
- Bao giờ cụ dậy, chú đưa cụ giấy này nhé, rồi tôi biên một cái giấy xin được gặp cụ. Một lát, có người sang gọi tôi.
Tôi sang thấy một mâm cơm, năm đôi đũa vì có ông thôn trưởng và ông chủ tịch Liên Việt, tôi vái chào.
- Tôi nghe tin cụ Bộ trưởng đi qua đây, xin lại kính chào cụ.
- Cám ơn ông! Quí hoá quá. Mời ông ngồi uống rượu với chúng tôi cho vui. Hôm nay đi đường mệt và đói, được ông thôn trưởng và ông chủ tịch cho ăn ngon và nhiều như thế này, tôi cám ơn lắm.
Trong bữa cơm kéo dài đến vài ba giờ đồng hồ, cụ hỏi thăm đủ mọi việc. Thật là một cuộc điều tra khéo léo về dân tình và một cuộc giải thích về chính trị, không có vẻ tuyên truyền, những lời nói đầm ấm cũng như những chữ, dùng rất thông thường và như rót vào tai các người ngồi nghe.
Tôi tai nghe, mắt nhìn cụ, tự hỏi có tin ở lời cụ hay không hay cụ đóng kịch, đóng vai một lão cán bộ tuyên truyền cho trường kỳ kháng chiến.
Cơm nước xong cụ bảo tôi “Tôi định sáng mai đi sớm nhưng gặp ông ở đây, trưa tôi đi cũng được. Mấy khi mà được gặp nhau”. Sáng hôm sau tôi sang chơi, thấy cụ ngồi uống nước với ông chủ nhà.
- Kìa ông giáo! Mời ông sang chơi xơi nước. Hôm qua tôi đi mệt quá, được ăn no ngủ yên. Hôm nay lại phiền ông chủ cho bữa cơm sáng và thuê hộ con thuyền về Bắc Mục.
Lời cám ơn công khai và gián tiếp này của cụ không phải là mấy câu khách sáo mà lời thực vì tôi biết cụ thực lắm.
- À ông giáo! Đằng sau nhà trên bờ sông tôi thấy có một cây đa to một cái ghềnh, chúng ta ra ngoài xem phong cảnh một lát.
Ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn nước sông Lô ngầu những phù sa, cuồn cuộn chảy xuôi, nghe tiếng thác ầm ầm gần đây nhìn lên thượng nguồn thấy núi non trùng trùng điệp điệp trên trời lơ lửng mây đen mây trắng, hai chúng tôi một già một trẻ ngồi lặng yên suy nghĩ.
Hồi lâu tôi lên tiếng:
- Ý kiến cụ về cuộc kháng chiến này của ta như thế nào?
- Ấy tôi cũng định hỏi ý kiến ông.
Chúng tôi lại ngồi im, mãi cụ mới nói:
- Cuộc kháng chiến này sẽ kéo dài lâu lắm vì thực dân Pháp ngu. Dân ta sẽ khốn khổ với chúng, nhưng chúng sẽ không tái lập được cuộc đô hộ đâu. Nước họ đã kiệt quệ vì cuộc chiến tranh với Đức, họ sẽ chết vì chiến tranh thuộc địa. Rồi ông xem nước Pháp sẽ tụt xuống hàng nước Y Pha Nho. Á châu sẽ mạnh. Trung Hoa và Ấn Độ sẽ phục hưng một cách nhanh chóng.
- Thế còn Nhật?
- Nhật sẽ phục hưng được nhưng không một dân tộc Á châu nào ưa họ đâu. Họ thâm độc lắm.
- Còn nước ta?
- Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy. Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngoé ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi. Lắm lúc tôi nghĩ buồn lắm. Suốt đời ăn hại. Chẳng biết chết rồi, về gặp ông bà ông vải, tôi biết ăn nói sao với các cụ? Nhưng thôi nghĩ vẩn vơ làm gì. Đời tôi thời bỏ đi rồi. Ông trẻ cố mà sống. Ông sẽ có ngày nhìn thấy đất nước tươi đẹp. Ông chịu khó và ngoan, không như thằng Bảo nhà tôi. Nhưng tôi cũng khuyên ông mấy câu. Đừng sợ khủng bố, chớ ham lợi danh, phụng sự nước đi. Nếu không phụng sự được nước vì bất tài thời phụng sự văn học. Ông có một căn bản văn hoá, bỏ đi không những là phí mà lại có tội, có tội với ông. Thôi, anh em chúng ta về.
Trong bữa cơm, tôi thấy cụ ăn rất ít và cũng chẳng nói chuyện gì cả. Tôi cảm thấy là cụ suy nghĩ. Thuyền đã chờ ở cửa bến, cụ chào ông chủ và bà chủ:
- Chúng tôi phải xuôi. Ông bà đối với chúng tôi tốt quá. Tôi đón tay cho mấy cháu ít tiền mua giấy bút đi học chữ Quốc ngữ. Ấy, xin biếu ông bà ít thuốc sốt, thuốc cảm đề phòng khi trái nắng trở trời. Bao giờ chúng ta đánh đuổi hết giặc Tây, đồng bào ai công vào việc ấy, làm gì mà nước chẳng giàu, dân chẳng mạnh? Nhưng bây giờ thời toàn dân phải vất vả.
Tôi tiễn cụ xuống thuyền, cụ nói rơm rớm nước mắt:
- Trong trường hợp nào ông cũng phải cố mà sống không được phí sức, không chán nản. Chẳng biết bao giờ chúng ta sẽ gặp lại nhau…
Tôi không được gặp cụ nữa.
Vào đầu tháng 10 Dương lịch năm 1947, tôi xuống Tuyên Quang đi sang châu Tự Do, vào trạm liên lạc của Bộ Nội vụ báo tin cho Bộ Kinh tế là tôi công tác đã xong xin về Bộ chờ lệnh.
Mấy hôm sau, quân Pháp nhảy dù ở Việt Bắc. Tôi được lệnh đi theo ông Thứ trưởng kinh tế Cù Huy Cận và ông Đổng lý Phạm Thành Vinh cùng một số anh em nha Khoáng chất và kỹ nghệ.
Chỉ thị là tạm ngưng công việc, di chuyển luôn luôn để tránh máy bay hay để khỏi lọt vào tay quân địch.
Một cuộc phiêu lưu vất vả nhưng đã giúp tôi quan sát được nhiều Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang…. Nay tạm trú ở một cái ấp, mai tản mát ở một thôn người Mán ở Tam Đảo, địch đánh từ dưới lên, chúng tôi tụt xuống hay tạt ngang.
Sau ông thứ trưởng thấy anh em đông quá, sợ sẽ bị lộ, bị bắt tất cả thì nguy, bèn bàn với anh em là nên phân tán trong lúc địch đang đánh ồ ạt, sau này sẽ tập trung lại.
Tôi không biết đi đâu, đành ngược từ Nhã Nam lên Bắc Mục. Phải đi tránh các con đường mà địch hành quân. Làng nào cũng có anh em liên lạc ở trạm. Nhiều lần phải đi đêm mệt hay ốm thì cứ phải nằm ở trạm, cơm nước có người ở trong lán (một cái lều ở trong rừng để chứa gạo, muối) đem ra cho. Tôi đi quanh quẩn đến nửa tháng mới từ Nhã Nam lên đến châu Tự Do. Phố xá ở lỵ sở châu đã bị “tiêu thổ” nhưng dân chúng đã quay về làm mấy cái quán mới.
Một đêm trời rét như cắt ruột, tôi cuốn chiếu nằm trên sàn nứa nghe tiếng mấy ông khách vào xin ông chủ cho ngủ trọ. Tôi nhận ra tiếng ông Đặng Phúc Thông, Thứ trưởng Giao thông công chính. Tôi lổm ngổm ngồi dậy ra chào.
- Chào đồng chí.
- Chào đồng chí.
Đặng Phúc Thông đưa mắt cho tôi, ý bảo không nên nói chuyện tại chỗ đông người. Rồi Đặng Phúc Thông đi ra ngoài cửa, tôi theo sau:
Tôi hỏi:
- Anh đi đâu? Thế nào?
- Vào khu IV tổ chức công việc. Trần Đăng Khoa (Bộ trưởng) ở lại khu. Bộ nào cũng phân tán. Nhân tiện nhân danh chính phủ tôi sẽ lại chia buồn với cụ bà Nguyễn Văn Tố, cụ ở thành. Anh biết tin cụ bị Tây hại rồi chứ gì?
- Trong trường hợp nào?
- Chưa biết rõ. Cũng chưa tìm thấy xác. Trong chính phủ ai cũng buồn và giận Tây lắm.
Tới ty sở Tuyên Quang, nhà cửa bị phá huỷ từ lâu, các cây gai mọc lên như rừng. Tôi đương đi len lỏi trong đống gạch vụn, bỗng nghe tiếng gọi:
- Ông Lâu! Chờ tôi với.
Tôi nhìn ngang nhìn ngửa mãi mới thấy một bà chạy lại. Chính bà Thục Viên, nguyên giám đốc trường nữ trung học Đồng Khánh, Hà Nội.
- Ông ở đâu về? Đi đâu? Có được tin tức gì không? Tây chiếm Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng phải không? À có phải cụ Tố chết rồi không?
- Mời bà đi quá lên cây số hai, có cái quán, ta vào xin nước uóng, tôi mệt lắm.
Vào trong quán thấy lỏng chỏng mấy nhánh chuối, mấy cái bánh chưng con, mấy cái bát đàn. Bà Thục Viên bảo tôi:
- Trường trung học của tôi ở bên kia sông. Nước độc, thiếu ăn, học trò ốm cả… chuyện ở khu như thế nào hở ông?
- Tôi không biết gì cả.
- Lại chính sách “Tam không”! Không biết, không nghe, không thấy.
- Tôi cũng chịu sự truyền tin của ta. Bà nói đúng Tây nhảy dù ở Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng và lẻ tẻ ở nhiều nơi.
- Thế ta đối phó ra sao?
- Tôi chắc là ta rút lui ra ngoài, rồi rủ cho họ ra tỉa dần. Thế nào họ cũng bị tiêu hao, vậy ta sẽ thắng.
- À, còn cụ Tố?
- Đấy là cái tang riêng cho giáo giới. Cụ đã bị Tây sát hại, Đặng Phúc Thông cho tôi biết như vậy.
Hai chúng tôi nhìn nhau.
Cụ Nguyễn Văn Tố đã là một đạt sĩ, rất nhiều thành công trên mọi phương diện.
Trích từ: Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục(1964), Nxb Mũi Cà Mau, tái bản 1994.
Chú thích:
1. Georges (1886 - 1969), thành viên EFEO từ 1911 - 1929, giám đốc từ 1919 - 1947. Vốn là giáo sư tiếng Đức, rồi theo học chữ Phạm và chữ Khmer, trở thành chuyên gia nghiên cứu về Xiêm và Campuchia. Là tác giả cuốn sách được nhiều người biết:Lịch sử cổ đại các nước Ấn Độ hoá ở Viễn Đông (1944).
2. Louis Bezacier (1906 - 1966), làm việc ở EFEO từ 1935, thanh tra Sở khảo cổ học, đến 1936 phụ trách ban Bảo tồn Chăm - Trung kỳ. Đã viết các cuốn:Nghệ thuật và kiến trúc quân sự Việt Nam (1941),Lược khảo về nghệ thuật An Nam (1944), Nghệ thuật Việt Nam (1955).








