Tương lai của sản xuất quy mô nhỏ (tiếp theo)
Những hạn chế
- Vốn đầu tư - Tiền mua bò cái sữa, thức ăn và thiết bị. Có thể giảm nhẹ những hạn chế này bằng cách khởi đầu nuôi dê, cừu hướng sữa thay cho bò, trâu sữa, hoặc sử dụng gia súc nội. Tuy năng suất thấp nhưng ít rủi ro.
- Nước và điện: Nước không những cần cho gia súc uống mà còn vì giá trị gia tăng của vệ sinh khi sữa đưa vào chế biến, đây là vấn đề hấp dẫn đối với chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ.
- Kiến trúc về chăn nuôi bò sữa, nhất là về dinh dưỡng. Đối với những hộ chăn nuôi gia súc lấy sữa, thức ăn thường chiếm 60 – 70% giá thành sản phẩm.
- Tiếp cận với các dịch vụ như cung ứng thức ăn, thú y và thụ tinh nhân tạo.
- Tiếp cận với những kiến thức thích hợp về sản xuất và công nghệ chế biến. Những tiến bộ về công nghệ hiện nay như hệ thống đóng gói và thanh trùng là yêu cầu cao ở các nước đang phát triển.
Dễ thấy có những trường hợp đặc biệt, khi mà giá thành sản xuất và mức độ yêu cầu của cơ sở hạ tầng đã làm cho sản phẩm sữa khó cạnh tranh. Những yếu tố tác động mạnh đến tính chất canh tranh như sở thích của thị trường nội địa (ví dụ đối với sữa tươi) cũng phải quan tâm. Các chủ hộ thường không ý thức được thị trường cần, không đủ thì giờ và năng lực để nghiên cứu yêu cầu của thị trường. Người ta thường hay nghĩ xấu về vai trò của người trung gian và xem họ là những phần tử không cần thiết trong chuỗi cung ứng sữa. Tuy nhiên, trong tình huống mà chuỗi cung ứng chưa định chế còn phổ biến, người trung gian là nhân tố nối liền người sản xuất với người tiêu dùng. Những người trung gian thường cấp tín dụng và nhận tiền gửi tiết kiệm cho các chủ hộ, mặc dù vậy, cũng có nhiều băn khoăn về giá cả của cung cấp dịch vụ.
Tổ hợp các hộ chăn nuôi có lẽ là cơ chế tốt nhất để cải thiện năng lực giao tiếp và cung cấp thông tin yêu cầu thị trường cho các chủ hộ. Tăng cường sử dụng kỹ thuật thông tin hiện đại (ICT), có ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện cung cấp thông tin thị trường ngay tức thì hoặc có định kỳ (tin nhắn, điện thoại di động, đài phát thanh địa phương hoặc quốc gia).
Cơ sở hạ tầng như đường sá xấu và thiếu nguồn điện ổn định cũng làm hạn chế tiếp cận thị trường. Hạn chế chính để thiết lập và mở rộng xí nghiệp sữa, là thiếu biện pháp bảo quản sữa. Sữa tươi rất dễ hư hỏng, với khí hậu nhiệt đới, chỉ giữ được 3 tiếng đồng hồ, sau đó sữa bị chua. Thời tiết xấu gây cho các hộ sản xuất nhỏ lẻ ở nông thôn những thiệt hại lớn vì họ không có khả nanưg đầu tư thiết bị lạnh.
Chuỗi giá trị của sữa có thể bị mất mát lớn do không đủ điều thiết bị lạnh nên sữa bị đổ đi và hư thối. Gần đây FAO đã tuyên truyền hệ thống Lactoperoxidáe (LPS) để bảo quản sữa tươi ở những nơi không có hoặc không đủ thiết bị lạnh.
Hệ thống này chỉ dùng cho những người đã được tập huấn ở các điểm thu gom chứ không phải cho các cá nhân chủ hộ và cũng không thay thế được việc thanh trùng (FAO/ WHO, 1991).
Cách tiếp cận và những bài học nên nhớ
Làm việc trực tiếp với các chủ hộ là cách tác động tốt nhất đến những quyết định của họ và nâng cao kiến thức của họ về cơ hội thị trường. Nhưng do thiếu thốn nguồn lực tập trung nên các đối tác cộng đồng hoặc tư nhân không thực hiện được. Tổng kết việc tác động của FAO vào quy nmô sản xuất nhỏ lẻ trên 5 lục địa suốt thời gian 40 năm qua cho thấy cách lựa chọn tốt nhất cho bước khởi đầu là tổ chức các hộ thành tổ - nhóm.
Làm việc với các nhóm giảm đáng kể các chi phí, giao quyền cho các tập thể để họ quản lý một cách chắc chắn việc kinh doanh của họ. Sản xuất quy mô nhỏ, thường thu kết quả tốt nhất, nếu lúc đầu hướng vào nhu cầu nội địa hơn là tiếp cận thị trường đã có các thành phẩm cạnh tranh hoặc đưa ra cho người tiêu dùng những sản phẩm mới.
Đối với sản xuất sữa quy mô nhỏ, chế biến sữa mang đến cơ hội lớn hơn về thu nhập và thị trường. Chế biến sữa thu nhập cao hơn nhiều so với sữa nguyên liệu, nó tạo việc làm ở nông thôn phục vụ các mặt như: Thu gom sữa, vận chuyển, chế biến và tiếp thị. Lại còn có thêm những lợi ích khác như tăng mức độ an toàn của sản phẩm, không nhiễm trùng, sản phẩm để được lâu hơn.
Sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền là yếu tố quyết định bảo đảm những sáng kiến phát triển sữa quốc gia thu được kết quả. Cần thiết phải tuyên truyền, cổ động việc tiêu dùng sữa và các sản phẩm sữa, giúp các hộ sản xuất nhỏ lẻ dễ dàng tham gia phát triển sữa. Chức năng quản lý của chính quyền đã chuyển mạnh sang hướng điều tiết nên đã loại trừ được thiếu sót quan trọng về tổ chức hỗ trợ sản xuất sữa quy mô nhỏ từ khâu cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, những tổ chức cung ứng đầu vào, đến việc thiết kế hệ thống chi trả căn cứ theo tiêu chuẩn chất lượng và hành nghề. Trong thiếu sót về tổ chức, cần nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi theo hướng tiếp cận với nhu cầu thị trường, năng lực xây dựng tích cực, thích nghi với sự phát triển về công nghệ và sáng chế phát minh.
Điều hành kém và lỏng lẻo về tổ chức là vật chướng ngại đối với nhiều xí nghiệp sữa. Các tổ chức thu gom, chế biến và kinh doanh sữa đều là những xí nghiệp nhiều tiền mặt, cho nên có nguy cơ cao công quỹ bị rò rỉ hoặc tham ô, gây thiệt hại cho người sản xuất nhỏ lẻ. FAO (2002) đã có tài liệu hướng dẫn về tổ chức, quản lý và hoạt động các tổ/ nhóm sản xuất sữa.
Có chính sách và môi trường điều tiết thoả đáng cho phép các lực lượng thị trường có thể đáp ứng có hiệu quả yêu cầu thị trường. Mô hình milkvita của Bangladeshmô tả tỉ mỉ những bước đi căn bản và các yếu tố chuyển đổi thành công từ một nền chăn nuôi chăn thả tự do trên đồng cỏ trước đây thành những xí nghiệp sữa ngày nay hoạt động có hiệu quả ở Bangladesh .
Các Uỷ ban sữa được tuyên truyền rộng rãi như một cơ cấu tổ chức thích hợp mà ngành sản xuất sữa quy mô nhỏ có thể thực hiện. Có lẽ mô hình sản xuất tốt nhất thuộc loại tổ chức này là trường hợp của Ấn Độ, thông qua kế hoạch tiền tệ hàng hoá của Chiến Dịch Triều Dâng, Ấn Độ đã trở thành nước sản xuất sữa nhiều thứ 2 trên thế giới. Thành công này không phải chỉ do phong trào đầu tư hàng loạt vào hàng hoá mà còn do nghệ thuật quản lý và tổ chức của Uỷ ban phát triển sữa toàn quốc Ấn Độ. Dù thế nào đi nữa, cái quan trọng là các tổ chức quốc gia là đại diện của những người sản xuất nhỏ lẻ mà hính họ là đại bộ phận những người sản xuất sữa ở các nước đang phát triển. Điều này chỉ có thể thực hiện thành công nếu phát triển sản xuất sữa bản địa tiến hành đồng thời cùng với thu gom và kinh doanh sữa.
Từ thực tế trên, có thể thấy để tác động có hiệu quả vào khu vực hộ sản xuất nhỏ lẻ thì việc đầu tiên là phải tập trung tổ chức nhóm/ tổ sản xuất hoặc chế biến sữa. Từng bước tiến dần thành xí nghiệp sữa hướng về thị trường dựa vào một tập thể các thành viên (tổ/ nhóm) được uỷ quyền đưa ra những quyết định sáng suốt; đó là một cách tiếp cận tuy bất thường nhưng thích hợp. Xí nghiệp sữa hướng về thị trường (MODE) là cách tiếp cận được xem như là hướng chỉ đạo sản xuất sữa quy mô nhỏ thành đạt. Đặc điểm của cách tiếp cận này là từng bước tiến hành lên thành xí nghiệp sữa thành đạt. Phải thừa nhận 3 bước cơ bản của cách tiếp cận này:
![]() |
Bước 2: Tầm hoạt động còn hẹp với lợi nhuận có mức độ
Bước 3: Thừa nhận cách tiếp cận hướng về thị trường và đưa xí nghiệp đi vào hoạt động có hiệu quả.
Ở bước 1:Tăng cường hoạt động liên kết, ví dụ quan hệ với những nơi cung ứng đầu vào như các đơn vị kinh doanh thức ăn, và làm sáng tỏ việc tăng thu nhập cho tổ/ nhóm. Các biện pháp tiếp tục hoạt động có hiệu quả (ngay cả khi khối lượng hàng hoá và tiền lãi có thấp), để chỉ ra rằng tổ/ nhóm có thể chuyển sang giai đoạn sau.
Ở bước 2:Sau một thời gian hoạt động, với những triển vọng mở rộng và hiểu các cơ hội thị trường, chấp nhận cách hoạt động ít rủi ro, tổ/ nhóm có thể quyết định mở rộng năng lực hoạt động. Đây là yếu tố chủ yếu hạn chế phát triển tổ/ nhóm hiện nay, và là bước đi có ý nghĩa lớn khi tiếp cận với MODE.
Ở bước 3:Các nhóm đã được tổ chức thành một tổ hoặc xí nghiệp thực thể, củng cố và mở rộng hoạt động để chứng tỏ có hoạt động đều đặn về sữa, có lợi nhuận để phân phối đều đặn lợi tức cho các thành viên tham gia. Các loại thực thể (tổ tự quản, hợp tác xã, công ty…) đều có thể đi đến thành công.
Đặc điểm của quá trình MODE là:
a. Những tiến triển về tổ chức.
b. Xí nghiệp và hướng về thị trường.
Sự tiến triển về sắp xếp tổ chức thể hiện thông qua: Các nhóm hoặc các cá nhân hoạt động buôn bán sữa (sữa có nhiều sữa), tổ chức các buổi họp thường kỳ, bắt đầu hoạt động theo tổ/ nhóm vì quyền lợi chung, xây dựng sự tin cậy của tổ/ nhóm, trau dồi các hoạt động của tổ/ nhóm, có người điều hành đã được bình chọn, tán thành điều lệ tổ chức, quan hệ với các tổ/ nhóm khác, tham gia các hội thảo người giữ tiền cược.
Sự tiến triển xí nghiệp hướng về thị trường thể hiện thông qua: những hoạt động có lợi, những hoạt động có lãi, có ý thức thị trường, tăng cường thu nhập thông tin thị trường, nghiên cứu thị trường, phân tích thị trường và phát hiện các thời cơ về lượng hàng, thử nghiệm sản phẩm trên thị trường và thăm dò sở thích của người tiêu dùng, phân tích thông tin phản hồi và chuẩn bị chiến lược thâm nhập thị trường, đầu tư hạn chế cho sản phẩm hoặc tiếp thị, tung sản phẩm ra thị trường, ghi chép và báo cáo thường xuyên các nguồn thu, khối lượng sản xuất và tiêu thụ phục vụ yêu cầu thị trường, tăng lợi nhuận và liên kết với các xí nghiệp khác.
Do nhanh chóng thực hiện các tiêu chuẩn sản phẩm cao hoặc các đặc điểm kỹ thuật không phải vì mục tiêu giá cả, nên tổ/ nhóm sản xuất và chế biến sữa quy mô nhỏ có thể loại trừ được các chuỗi cung ứng chính thống quy mô lớn. Thêm vào đó, các thành viên của tổ/ nhóm không muốn hoặc không thể tiếp nhận tiền vay dài hạn theo yêu cầu của những người buôn sỉ và bán lẻ quy mô lớn.
Ở các nước đang phát triển, những thiếu sót về tổ chức thu gom sữa và hệ thống chế biến và kinh doanh sẽ làm giảm sút nghiêm trọng tiềm năng khai thác thị trường thành phố của những hộ sản xuất sữa nhỏ bé. Cần thiết phải có những tổ chức đủ mạnh để hỗ trợ sự phát triển của những hệ thống nói trên.
Năng lực tổ chức – xây dựng.Ngoài những kỹ năng đàm phán ký kết hợp đồng còn đòi hỏi phải có thêm sự phân định rõ ràng hoặc thời gian biểu dành cho sự chuyển động từ một tổ chức xã hội tiến lên thành một xí nghiệp thực thể.
Cần nâng cao kỹ năng công nghệ và tổ chức để xúc tiến triển khai các tổ chức sản xuất tầm cỡ địa phương, vùng và toàn quốc. Vai trò của Nhà nước là tạo môi trường thuận lợi bằng pháp luật, hệ thống quy định và đào tạo để khuyến khích tổ chức và hoạt động tổ/ nhóm theo nguyên tắc dân chủ.
Lãnh đạo, chỉ đạo.Trao quyền lực cho các tổ/ nhóm là một quá trình nhạy cảm, thường là một quá trình vất vả, đòi hỏi phải có đầu tư thực sự. Theo bản chất tự nhiên, các nông hộ thường đối địch với mạo hiểm nhưng hiểu cách xử lý mạo hiểm, họ cảm giác với những cơ hội phát sinh thu nhập ổn định khác.
Đang nảy nở ý thức về tư nhân hoá các tổ chức giữ tiền cược và cần thiết phải đổi mới về tổ chức. Lĩnh vực sản xuất sữa thường là người đi đầu theo xu hướng trên và đã xuất hiện các tổ chức tư nhân trên lãnh thổ địa phương, vùng và toàn quốc, kể cả việc phục vụ nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và các dịch vụ khuyến nông. Tầm quan trọng ngày càng tăng và vị thế mãnh liệt của công nghiệp sữa thế giới cũng ảnh hưởng đến vai trò của khu vực sản xuất sữa quy mô nhỏ.
Để phát triển sữa bền vững yêu cầu phải có chính sách môi trường dễ dãi và cụ thể. Chính sách về sữa phải gắn kết với chính sách phát triển chăn nuôi quốc gia và phải thực thi thông qua các chiến lược cụ thể. Chính sách phải huy động được sự tham gia của mọi người, phối hợp được quyền lợi của khu vực công và tư thông qua các tổ chức cổ đông thích hợp.
Rào cản.Việc đề cao tầm quan trọng về các tiêu chuẩn và buôn bán theo vùng vừa là cơ hội vừa là thách thức. Những năm gần đây đã có sự chuyển hướng mạnh về phân vùng chính sách và các quy định chỉ đạo hoạt động kinh doanh hàng hoá. Đây là cơ hội đối với các tổ/ nhóm hoặc xí nghiệp có thể đáp ứng các tiêu chuẩn đưa ra nhưng lại là thách thức đối với những ai xây dựng tiêu chuẩn, đại loại những tiêu chuẩn đó bao gồm chứ không loại trừ những người sản xuất nhỏ lẻ của họ.
Ngành sản xuất sữa quy mô không thể cạnh tranh dựa trên giá thành sản phẩm nhưng có thể cạnh tranh trên thị trường bằng cách lựa chọn vào sở thích của người tiêu dùng, ví dụ sữa tươi sản xuất tại chỗ được đánh giá cao hơn sữa ngoại nhập khẩu. Đây là cơ hội lớn của các tổ/ nhóm sản xuất sữa quy mô nhỏ, làm cho họ kinh doanh có hiệu quả và sản xuất các sản phẩm có chất lượng.









