Từ luyện đan trường sinh đến thuốc súng
Những đạo sĩ nguyên thuỷ chính là các hoá học gia, điều chế thuốc men bằng các chất thần sa (còn gọi là chu sa hay cinnabar tức thuỷ ngân sunphit, thạch tín cùng những khoáng vật khác mà họ tin rằng sẽ kết tinh thành linh đan, uống vào giúp con người trường sinh bất tử. Ngay từ thế kỷ thứ nhất, các nhà luyện đan đã sử dụng lưu huỳnh (sulphur), tiêu thạch (tức kali) và nhiều lần phản ứng đã gây hoả hoạn. Đến thế kỷ thứ 8, đời nhà Đường khi họ trộn thêm than củi thì tạo ra một loại thuốc nổ, được đặt tên là hoả dược (fire medicine) tức là thuốc súng sau này.
Lúc đầu ba loại hoá chất này được dùng riêng rẽ như các vị thuốc mà thôi. Lưu huỳnh để chữa bệnh ghẻ còn tiêu thạch để hạ sốt, đau bụng hay ứ huyết. Ngay đến thế kỷ thứ 16, thuốc súng vẫn còn được coi như một dược phẩm để trị sán lãi, bệnh ngoài da và các chứng dịch tễ.
Sau khi tìm ra thuốc nổ, người Trung Hoa đã dùng loại hợp chất mới này vào trong công tác quân sự. Võ Kinh Thông Yến (Compendium of the Most Important Military Techniques) viết vào năm 1044 có ghi công thức chế tạo thuốc nổ, cách làm lựu đạn khói (poison smoke-grenades) và tạc đạn (firebombs). Đến thế kỷ thứ 12 thì thuốc nổ được dùng trong các loại hoả tiễn, bắn tên, dùng nòng bằng ống tre, nhồi thuốc súng và mồi bằng cách châm lửa.
Nguồn: Theo sách “Quân sự đời Thanh”







