Từ 1/7/2006 Luật Bảo vệ môi trường 2005 có hiệu lực: Quy định rõ việc nhập phế liệu
- Nếu chúng ta nhìn nhận Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 mang tính chất khung thì Luật lần này rất chi tiết với các điều khoản. Đặc biệt giảm tối đa các văn bản hướng dẫn. Luật được xây dựng trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và thế giới. Khi xây dựng Luật lần này, Ban soạn thảo không chỉ lấy ý kiến của các cơ quan quản lý mà của cả doanh nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp, cá nhân...
- Luật Bảo vệ môi trường mới có giải quyết được vấn đề bấy lâu nay mà Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn lúng túng trong việc nhập rác thải và phế liệu? Luật có tránh được cho các doanh nghiệp không bị nhiễu giữa các văn bản luật và để đảm bảo nhập nguyên liệu chứ không phải nhập rác thải?
- Luật mới hướng tới quy định rõ việc nhập các phế liệu. Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu: đã được phân loại, làm sạch, không lẫn những vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu; không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại nằm trong danh mục những phế liệu không được phép nhập khẩu do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định. Luật quy định đối với các tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải có đủ các điều kiện: kho bãi dành riêng cho tập kết phế liệu đảm bảo các điều kiện bảo vệ môi trường; có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm phế liệu; có công nghệ, thiết bị tái chế, tái sử dụng phế liệu đạt tiêu chuẩn môi trường mới được nhập khẩu phế liệu.
Mặt khác, các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu chậm nhất 5 ngày trước khi bốc dỡ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước về chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu, cửa khẩu nhập khẩu, bến vận chuyển, kho bãi tập kết và nơi đưa phế liệu vào sản xuất; xử lý tạp chất đi kèm phế liệu nhập khẩu; đồng thời không được cho, bán tạp chất đó... Cần nhấn mạnh, nhập khẩu phế liệu là loại hình kinh doanh có điều kiện. Bộ Thương mại chủ trì sẽ phải phối hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường năm 2005 ban hành những quy định tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh của các tổ chức kinh doanh nhập khẩu phế liệu này. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng sẽ tránh được tình trạng mạnh doanh nghiệp nào doanh nghiệp đó xin quota nhập khẩu phế liệu mà không biết trong nước có nhu cầu hay không, về đến cảng mới lo chào bán;,dẫn đến ách tắc, ô nhiễm ngay từ cảng.
- Chế tài xử phạt luôn được xem là công cụ quản lý hữu hiệu. Vậy, trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, mức xử phạt có được nâng lên hay không?
- Phần này có hẳn một Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, có những điểm liên quan đến những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì mức xử phạt có thể truy tố trước pháp luật.
- Để chuẩn bị thực thi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, ngành Môi trường đã chuẩn bị như thế nào, thưa ông?
- Sẽ có một Nghị định của Chính phủ được ban hành về tổ chức cơ quan chuyên trách về môi trường. Theo đó, các bộ, ngành phải có cơ quan chuyên trách về môi trường. Ở cấp huyện có phòng Tài nguyên và môi trường, cấp xã có cán bộ chuyên trách về môi trường. Tại các khu chế xuất, khu kinh tế có lực lượng lo về môi trường. Theo tôi, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 sẽ thực thi dễ hơn vì không mang tính chất khung. Về nguồn tài lực, từ 2006- 2010, hằng năm sẽ có 1% tổng chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường (khoảng 3000 tỷ đồng).
- Xin cảm ơn ông!
Nguồn: Số 53 Thứ Hai 3/7/2006








