Trồng nấm bào ngư bằng bụi xơ dừa: Hướng thoát nghèo mới
Cù lao Tắc Cậu có khoảng vài trăm hecta dừa với 6 cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, mỗi ngày thải ra hàng tấn bụi. Bụi xơ dừa đổ tràn lan ra bờ sông, kênh rạch. Một số người làm phân bón nhưng cũng chỉ giải quyết một phần rất nhỏ lượng bụi thải ra. Trước thực tế đó, Phòng Nông nghiệp huyện đã thực hiện dự án “Trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa”. Ngay từ ngày đầu được cán bộ kỹ thuật từ tỉnh Bến Tre sang hướng dẫn, những người tham gia đề tài đã thấy đây là một cách làm thiết thực, hiệu quả.
Kỹ sư Nguyễn Thị Thanh Vân, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành cho biết: Cách làm này giúp cho nông dân tận dụng được những phụ phẩm từ việc sản xuất chỉ xơ dừa và thời gian nông nhàn cho lao động.
5 nông dân trực tiếp thực hiện mô hình trồng nấm bào ngư bằng bụi xơ dừa và 20 nông dân khác được tập huấn kỹ thuật đều khẳng định kỹ thuật trồng không khó, kinh phí đầu tư thấp, ai cũng có thể làm được. Hiện nấm được trồng thử nghiệm nên tiêu thụ chủ yếu tại xóm, ấp với giá 20.000 đồng/kg.
Gia đình anh Dương Văn Nám ở ấp An Lạc tận dụng chái bếp hấp, treo 300 bịch phôi nấm bào ngư, trong đó có hơn 200 bịch kéo tơ và cho nấm tốt, thu hoạch được hơn 20 kg nấm trong vòng 2 tháng. Anh Nám dự định sẽ mở rộng sản xuất vì “Đây là cơ hội tạo thêm công ăn việc làm cho gia đình những muốn làm giàu thì phải sản xuất với quy mô lớn hơn. Anh kể, lúc đầu đi bán, mọi người thấy nấm lạ không dám ăn, anh đảm bảo chất lượng và tặng ăn thử, sau đó nhiều người đến nhà anh đặt mua. Bà Lê Thị Hợp, một người nội trợ cho biết: “Nấm bào ngư ăn rất ngon, có thể kho chung với cá, tép hoặc xào”.
Không bó tay trước khó khăn trong khâu tiêu thụ, anh Nám đang tìm hướng đi khác trong nghề trồng nấm bào ngư, đó là sản xuất bịch phôi bán cho những gia đình ở gần chợ mua về chăm sóc và bán nấm tươi. Anh cũng như bà con trồng nấm ở đây đang mong các cơ quan quản lý và doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm.
Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành cũng đang xin kinh phí để tiếp tục hướng dẫn kỹ thuật cho 50 hộ nữa, tổ chức sản xuất nấm ngay tại huyện; vận động cán bộ trong ngành mua phôi về sản xuất nấm ăn để người dân biết nhiều hơn về cây nấm bào ngư; đứng ra làm cầu nối để các hộ sản xuất phôi nấm. Theo ý kiến của nhiều người, song song với việc mở rộng sản xuất, các ngành chức năng nên hỗ trợ nông dân tìm đầu ra ổn định cho nấm bào ngư. Có như vậy, nghề này mới phát triển bền vững, giúp nông dân cù lao Tắc Cậu xoá đói, giảm nghèo.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 33 (519), 14/8/2006








