Trích dẫn trong Tuyên ngôn độc lập
Thế nhưng khi thảo văn kiện Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Hồ Chủ tịch không trích dẫn. Vì sao vậy? Vì những tư tưởng trong hai bản hùng văn trên không mang tính thời đại; vì bản chất chế độ phong kiến không thể tạo ra cho toàn dân ViệtNamvà nhân loại một cuộc sống ấm no, bình dẳng và hạnh phúc. Để có những trích dẫn phù hợp với tư tưởng của mình và pháp lý hiện đại của các quốc gia trên thế giới, Hồ Chủ tịch đã chọn hai trích dẫn trong bản Tuyên ngôn độc lậpcủa Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của Pháp.Có người nghĩ rằng Hồ Chủ tịch lấy hai trích dẫn trên là một sách lược có tính chất ngoại giao. Theo tôi, hoàn toàn không phải như vậy.
Ngay từ hồi còn ở trên rừng Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã nghĩ đến vấn đề này. Cuốn Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập II, có ghi một tư liệu như sau: … “ Vào khoảng giữa tháng 5 - 1945, Người có yêu cầu trung uý John báo vụ cơ quanOSS(cơ quan tình báo quân đội Mỹ) điện về Côn Minh (nơi cơ quan này đóng ở VânNam- Trung Quốc) đề nghị thả dù cho Bác một cuốn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ”. Rõ ràng, bản Tuyên ngôn độc lậpcủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được Hồ Chủ tịch chuẩn bị, hình thành trong tư duy từ ba, bốn tháng trước. Sau này có người đặt câu hỏi: Vì sao Hồ Chủ tịch lại trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp mà không lấy của nước nào khác?
Muốn trả lời được câu hỏi trên, chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu lịch sử ra đời của hai bản tuyên ngôn này.
![]() |
Thế nhưng khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân Mỹ, chúng thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, phân biệt nam, nữ; áp bức bóc lột nhân dân, thực hiện chính sách xâm lược các nước khác, chà đạp trắng trợn những nguyên tắc về quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc. Năm 1912, lúc Hồ Chủ tịch còn trẻ ở Mỹ, đã ghi cảm tưởng của mình dưới chân tượng Nữ thần Tự do như sau: “ Ánh sáng trên đầu Thần tự do toả rộng khắp trời xanh, còn dưới chân của Thần thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ bị chà đạp. Đến bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới?” Rõ ràng đây là những nhận xét của Hồ Chủ tịch về bức tranh tương phản với các mỹ từ “tự do”, “bình đẳng”, “nhân quyền” của xã hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Còn Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của cách mạng Phápra đời như thế nào? Vào nửa cuối thế kỷ XVIII chế độ phong kiến Pháp đã suy tàn, bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Quần chúng nhân dân bất mãn cao độ tầng lớp quý tộc ăn bám, bắt nộp nhiều thứ thuế quá vô lý, đã nổi lên thành cao trào cách mạng. Chính quyền phong kiến Pháp dưới triều Louis XVI đã huy động quân đội các nơi, kể cả quân đội đánh thuê Đức và Thuỵ Sĩ, về tập trung tại thành phốParisđể đàn áp. Như lửa đổ thêm dầu, ngày 12 - 7 - 1789 nhân dân cả thành phố xuống đường biểu tình, phá các kho vũ khí, cầm súng tấn công vào pháo đài Bastill, nơi tập trung quyền lực của chính quyền phong kiến chuyên chế. Thành phốParislọt vào tay quần chúng cách mạng, ngọn lửa vũ trang khởi nghĩa cướp chính quyền ở các nơi bùng lên mạnh mẽ, lật đổ chế độ phong kiến, nhà vua bị bắt giam, rồi phải lên đoạn đầu đài… Một chính quyền mới do giai cấp tư sản lãnh đạo ra đời với bản Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyềnnổi tiếng của cách mạng Pháp, trong đó có các quyền tự do như: tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng… quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền của mọi người chống áp bức. Các quyền này được gói gọn trong ba từ: Tự do (Liberté), Bình đẳng (Égalité), và Bác ái (Franternité). Bản Tuyên ngôn của Pháp là kết tinh của cách mạng dân chủ tư sản điển hình, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào đấu tranh của nhân dân các nước chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ.
![]() |
Sơ lược lịch sử ra đời và ý nghĩa của hai bản Tuyên ngôn Mỹ, Pháp chúng ta thấy rằng trong hoàn cảnh giữa thế kỷ XX, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với bản Tuyên ngôn độc lậpcó hai câu trích dẫn của Tuyên ngôn Mỹ và Pháp vì nó phù hợp với sự tiến hoá của toàn nhân loại mang đậm nét tính thời sự cho hiện tại và tương lai của bất kỳ nước nào trên trái đất. Đó là quyền con người. Mà đã là quyền con người thì dù ở đâu, thuộc bất kỳ dân tộc nào cũng đều có quyền được hưởng các quyền lợi do xã hội đem lại. Khẩu hiệu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và tiêu ngữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là do Hồ Chủ tịch đã đúc kết từ trí tuệ của nhân loại về nhân quyền, bao gồm quyền tự do cá nhân, quyền sống, quyền độc lập, quyền mưu cầu hạnh phúc… của tất cả các dân tộc Việt Nam cũng là ước muốn của các dân tộc khác. Đã là con người thì phải có ăn, có mặc; và khi có quyền tự do, độc lập thì việc học hành “khai sáng dân trí” sẽ do nhà nước và xã hội lo. Nói một cách khác loài người trên trái đất sống theo bản năng: bản năng sống, bản năng tự do và bản năng mưu cầu hạnh phúc. Vì vậy mà bản Tuyên ngôn độc lậpnước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa có tính chất hợp phpá, vừa có tính chất thời đại, nên nó có tầm phổ quát nhân loại. Mục đích của Hồ Chủ tịch là thực hiện trên đất nước ta và trên toàn thế giới một lý tưởng đẹp nhất và hiện đại nhất của loài người tiến bộ, văn minh.
Tóm lại, mặc dầu cả hai nước Mỹ, Pháp về sau đều là đế quốc thực dân, nhưng ý nghĩa bản Tuyên ngôn độc lậpcủa Mỹ nói lên nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa Bắc Mỹ đấu tranh để giải phóng khỏi ách thực dân Anh. Còn Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyềncủa Pháp là thành quả của cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ phong kiến điển hình. Cả hai cuộc đấu tranh này đều do giai cấp tư sản ở hai nước đóng vai trò tiến bộ lúc bấy giờ, nên có khả năng tập hợp lực lượng cách mạng đứng lên lật để chế độ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ và xoá bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến ở Pháp.
Một nước ViệtNamđộc lập theo thể chế dân chủ, cộng hoà cũng là sự thực hiện làm theo bản Tuyên ngôncủa Hoa Kỳ và của Pháp, thì các dân tộc trên thế giới chắc chắn sẽ đồng tình. Và khi nền công lý bị chà đạp thì nhân dân Mỹ, Pháp sẽ phản đối, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ViệtNam. Điều này đã được chứng minh trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Có người cho rằng trong phần trích dẫn Tuyên ngôn độc lậpcủa Mỹ, Hồ Chủ tịch đã sửa đổi một đôi chỗ. Theo một tư liệu số nhà nghiên cứu sử học, thì câu (dịch): “ Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người sinh ra bình đẳng”; Hồ Chủ tịch đã diễn đạt bằng câu: “ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng”. Khi được đọc đoạn này dịch ra tiếng Anh, nguyên Thượng nghị sĩ Mỹ McGovern đã nhận xét: “ Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”. Hồ Chủ tịch đã mở rộng quyền con người thành quyền dân tộc, quyền lợi của mỗi cá nhân được coi là cơ sở cho quyền lợi của dân tộc, các dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Đó chính là sự thống nhất giữa quyền sống của mỗi con người, quyền độc lập của dân tộc. Giá trị nhân bản Tuyên ngôn độc do Hồ Chủ tịch soạn thảo chính là ở chỗ này.
Trong cuốn Những năm tháng không thể nào quêncủa Đại tướng Võ Nguyên Giáo có ghi: … “ Trong căn buồng nhỏ thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong 36 phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy… Một hôm Bác và anh Nhân (Trường Chinh - TG) gọi anh em chúng tôi tới. BảnTuyên ngôn lịch sử đã thảo xong, Bác mang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói sau này, đây là những giờ phút sảng khoái nhất của Người” (tr 26, 27). Còn nhà sử học người Mỹ William J. Duiker thì viết: “ Sau này khi kể lại với họ (chỉ những cộng sự của Bác - TG) ông (tức Hồ Chủ tịch) nói rằng: “đó là những giây phút hạnh phúc nhất” đời ông”.
Từ hai trích dẫn làm luận cứ về pháp lý, Hồ Chủ tịch đã lên án những chính sách tồi tệ và những hành động dã man của thực dân Pháp trong hơn 80 năm lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp và áp bức đồng bào ta. Và Người đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: … “ Nước Việt nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc ViệtNamquyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh toàn tập , Tập III. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002.
Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử , tập II. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
Lịch sử thế giới cận đại , tập I, II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1970.
V.J. Duiker,Hồ Chí Minh , Tập I, II, Hyperion, New York 2000 (Bản dịch của Bộ Ngoại giao, 2001).










