Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 15/05/2009 01:06 (GMT+7)

Trào lưu tư tưởng giáo dục phi chính thống của sĩ phu Hà Nội thời Nguyễn

Riêng trong tầng lớp gọi là “Nho sĩ bình dân” nơi thôn làng cũng có những diễn biến mới. Từ nay không phải chỉ có “hàng ngàn khoá sinh không may trong các kỳ thi trở về làng, tay trắng vẫn hoàn tay trắng”, mà có không ít người đỗ tiến sĩ, cử nhân nhưng không ra làm quan, hoặc làm chiếu lệ dăm bẩy năm rồi cáo về. Điển hình là nhóm Nho sĩ là môn sinh của Tiến sĩ triều Lê Phạm Quý Trích, bậc “thạc Nho” mà cả Gia Long lẫn Minh Mạng đều hết sức quan trọng, nhưng Lập Trai tiên sinh vẫn hoài Lê, hững hờ với tân triều. Về những điều kiện lịch sử xuất hiện của nhóm Nho sĩ này dưới triều Nguyễn, cũng như trạng thái tư tưởng và hoạt động ngầm đối lập của họ dưới chế độ chuyên chế hà khắc của Gia Long và Minh Mạng, chúng tôi từng phân tích trong các công trình đã công bố trong 15 năm qua. Ở đây chỉ xin nhắc lại vắn tắt đôi điều có liên quan đến quan điểm giáo dục của họ.

Nhóm sĩ phu Hà thành do TS Vũ Tông Phan đứng đầu, ghhi nhận tân triều làm được việc “theo ý trời” (tức hợp quy luật) là thống nhất đất nước. Tuy nhiên, các vua đầu triều Nguyễn nói “vương đạo”, nhưng để củng cố quyền lực chuyên chế mới thiết lập được nhờ giành phần thắng trong nội chiến thì họ phải thực thi “bá đạo”, chủ tâm hạ cấp văn hoá cố đô Thăng Long nhằm độc tôn Thần kinh Huế. Thực tế này đã khiến Vũ Tông Phan cùng các đồng chí lâm vào nghịch cảnh: không thể thanh thản hợp tác với một vương triều bắt đầu tàn sát công thần, thả sức vơ vét bằng sưu cao, thuế nặng, bắt phu bắt lính khiến xóm làng xơ xác, phố xá tiêu điều. Như một đối sách, nhóm sĩ phu Hà thành này đã đưa ra quan niệm mới của họ về “ hành - tàng”, phép ứng xử truyền thống của Nho gia: “ tàng” không phải là về ẩn dật một mình nơi sơn cùng thuỷ tận để “trộm lấy sự an nhàn” (Nguyễn Văn Siêu, 1834), “ hành” không phải chỉ có làm quan mà là thực thi cái chí hướng sáng ngời như thanh gươm của kẻ sĩ “hành hay tàng vẫn rạng muôn phương” (Vũ Tông Phan: Ngọc Sơn đế quân từ ký,1843), dù là làm quan giữa triều đình như TS Nguyễn Văn Lý và TS Lê Duy Trung, hay như TS Vũ Tông Phan “cấp lưu dũng thoái” (trước dòng nước xiết biết dũng cảm thoái lui - lời của TS Nguyễn Văn Lý trong bài điếu ông Phan) tức chủ động từ bỏ hoạn lộ đang hanh thông, để về đứng đầu Văn hội Thọ Xương và Hướng Thiện hội “làm những việc có ích cho người, qua đó mà giáo hoá họ” (TS Vũ Tông Phan: Ngọc Sơn đế quân từ ký,1843); hoặc đỗ đạt nhưng trì hoãn gia nhập quan trường, như cử nhân (CN) Nguyễn Văn Siêu trong 13 năm (1825 - 1838) 3 lần từ chối nhận chức ở bộ Lễ, hay như hai môn sinh xuất sắc của ông Nghè Phan là CN Ngô Dạng và CN Nguyễn Huy Đức (ông thầy đã đào tạo ra Lương Văn Can), đỗ đạt rồi suốt đời không ra làm quan mà ở nhà dạy học.

Nhưng điều đặc biệt mới mẻ là các Nho sĩ này không “ hành” đơn lẻ như xưa kia: có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử Nho giáo Việt Nam, để thực hiện có hiệu quả công cuộc giáo hoá trị sinh, họ đã tập họp nhau trong một tổ chức văn hoá - xã hội phi chính thốnglà hội Hướng Thiện, so với các hội Tư văn chính thống thì bao quát hơn về địa bàn (có thành viên ở nhiều tỉnh thành), rộng rãi hơn về thành phần xã hội (ngoài Nho sĩ, tham gia Hội còn có nhiều thương nhân, đứng tên cá nhân hay các cửa hiệu, có cả một số binh sĩ và quan lại đương chức - xem Hợp tư tính thị bi kýtrong đền Ngọc Sơn) và điều quan trọng nhất là phóng khoáng hơn nhiều về lĩnh vực hoạt động (mở tư thục - riêng ở khu vực hồ Hoàn Kiếm và phường thôn lân cận đã có đến 13 trường! - Tổ chức biên soạn và khắc in sách, giảng kinh đạo lý cổ truyền, trùng tu đền chùa…). Những “ chủ trương” (chữ của chính họ trên một vế đối trong đền Ngọc Sơn: Đạo đã có chủ trương) trên đây đương nhiên thể hiện cả trong quan điểm giáo dục của nhóm Nho sĩ này.

Định hướng chính thống của triều dình về giáo dục tất nhiên trường Quốc tử giám và các học đường phủ huyện phải tuân thủ, nhưng các tư thục, kể cả các trường đại tập chuyên rèn luyện sĩ tử đi thi, vốn dĩ tất yếu phải định hướng khuôn mẫu văn trường ốc chính quy, vẫn có thể không nhất nhất phải chấp hành. Tuy chưa đến lúc phủ định Nho giáo và từ bỏ lối học cử nghiệp cùng văn chương bát cổ khuôn mẫu, nhưng ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, qua thực tiễn sư phạm của bản thân, Hội trưởng Hướng Thiện thứ hai PB Nguyễn Văn Siêu đã cảnh báo: “Nếu không từ học vấn, tâm thuật để giáo dục nhân tài;mà chỉ khư khư với văn chương khoa cử, thì dù nay thay đổi đường này, mai thay đổi hướng khác, vẫn vô ích” (1). Hiện tượng không phải chỉ riêng Cao Bá Quát, mà cả Nguyễn Văn Siêu và trước đó vài năm là Ngô Thế Vinh đều can tội sửa quyển thi để cứu người thực học, chứng tỏ nhóm sĩ phu trong hội Hướng Thiện quan niệm về hiền tài khác với quan điểm chính thống. Điều này có thể thấy qua việc “giải mã” các bài thơ Vũ Tông Phan cùng các đồng chí ngâm vịnh Phương đình của Nguyễn Văn Siêu.

Các nhà Nho đời trước không ít người lấy chữ đình để đặt biệt hiệu của mình Thạc Đình, Ngạc Đình, Tập Đình… sang thế kỷ XIX càng nhiều người dùng chữ “đình” ấy để đặt biệt hiệu: Phương Đình, Dương Đình, Chí Đình, Phục Đình, Liên Đình, Thiện Đình… Một số nhà nghiên cứu văn hoá Thăng Long - Hà Nội lớp trước như các cụ Hoàng Đạo Thuý, Phong Châu… từng viết Phương Đình cũng là tên gọi ngôi nhà dạy học của Nguyễn Văn Siêu trên bờ sông Tô (phố Nguyễn Văn Siêu ngày nay); trường Kiếm Hồ của Vũ Tông Phan cạnh đền Vua Lê dưới gốc đa ven bờ tây hồ Gươm cũng gọi là trường Hồ Đình. Hậu Duệ dòng họ TS Nguyễn Văn Lý cho biết ngôi trường dạy học của Cụ và con cháu cũng gọi là trường Chí Đình (2), vốn là biệt hiệu Cụ thường dùng, song hành với tên hiệu Đông Khê.

Khi dùng chữ “đình” để gọi tên các thục xá, Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Huy Đức… đã xuát phát từ nghĩa xưa của từ này là: “ngôi nhà dựng bên đường cho khách dừng nghỉ” ( Từ Nguyên) nhưng gửi gấm vào đó những ý tưởng liên quan sự nghiệp chấn hưng văn hoá - giáo dụcmà họ dự định tiến hành thông qua các ngôi trường đó. Hội Hướng Thiện hoạt động chỉ hai chục năm sau vụ “án văn tự” khiến cha con công thần hàng đầu của Gia Long là Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cùng phải chết thảm khốc, cho nên các “chủ trương” của Hội đều được “tàng” kỹ lưỡng sau câu chữ, điển cố, khiến ngày nay phải đối chứng thơ văn, gia phả, bi ký, sử liệu… để “giải mã” mới mong hiểu đúng ý của tiền nhân.

Nhóm sĩ phu này có lẽ là những thi sĩ đầu tiên đã chủ tâm lấy chữ “đình” để ngâm vịnh nhân dịp mở trường dạy học. Một cơ may đã giúp chúng tôi phát hiện năm 1995 trong sách Chư gia thi văn tuyểnlưu trữ với ký hiệu A.357 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội chùm thơ nhan đề Phương Đình Nguyễn tửu diên xướng nhất hoạcủa 7 vị danh sĩ Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Lê Duy Trung, Vũ Tông Phan, Nguyễn Khoái Ông (?), Trần Văn Di và Diệp Xuân Huyên. Chúng tôi đã có bài khảo cứu riêng về chùm thơ này, xác định niên đại của chùm thơ là mùa xuân năm 1834.

Ý tưởng chủ yếu các nhà Nho này gửi gấm vào những ngôi trường với tên gọi có chữ “đình” này là đưa sự nghiệp giáo dục ở đất Hà Nội đã sa sút nghiêm trọng, khi mọi người “đi học chỉ cốt giật tiếng Nho”(Vũ Tông Phan: Để Hà Nội giới thủ) trở lại với “điển và hình” của nền chính học.

Mục tiêu chủ yếu của nhà trường chính học không phải là khoa cử mà là dạy đạo làm người. Triều Nguyễn tự nhận lĩnh sứ mệnh trung hưng vận nước. TS Nguyễn Văn Lý dường như thay mặt cho các đồng chí của mình mà nghi vấn, thực ra là khẳng định: “Trung hưng vận nước mà không chấn chỉnh đạo làm người được sao?” Đạo làm người đối với Nho gia trước hết là làm con người Phương Chính(“người nào tính mạnh ngay tẳng là phương chính” - Thiều Chửu: Hán Việt tự điển). Chúng tôi cho rằng chữ “đình” của nhóm sĩ phu sáng lập Hướng Thiện hội ngầm chỉ chủ trương chính học vì căn cứ sự “giải mã” một số chi tiết sau đây:

- Chính những người trong cuộc rượu khánh thành Phương Đình cho biết việc này liên quan những sự kiện dẫn đến chủ trương chấn hưng văn hoá - giáo dục Thăng Longmà họ đã cùng nhau luận bàn nhiều trong hai năm trước và đi đến nhất trí: Những câu “Tài du hồ thượng tự” và “tồn cựu ước” nhắc lại việc họ từng suốt ngày thong dong trên mặt nước (“chung nhật tương thảng dương”) mà chỉ bàn những chuyện trong hồ(“chỉ thuyết hồ trung tự”), rồi tá túc qua đêm ở chùa Ngọc Sơn để đàm đạo, hỏi chuyện ngàn năm (“dục vấn thiên niên sử”) ở ông lão Tín Trai họ Nguyễn làng Nhị Khê quê hương Nguyễn Trãi, tức chuyện Lê Lợi - Nguyễn Trãi cùng thanh gươm nhân nghĩa: “Gươm sáng mới mài ngời ánh sáng/ Hành hay tàng vẫn rạng muôn phương” (3); câu “Tuỳ quá thuỷ biên đình” (rồi lại qua ngôi đình ven mép nước) ám chỉ việc họ từng tụ hội khi ở Hồ Đình, ngôi trường của Vũ Tông Phan ven bờ tây hồ Gươm để “phân độc thiên gia thi” và “tầm nguyên”, “phỏng cổ” cho đến khi “nhập thất sơ” (bắt đầu hiểu ra nghĩ lý sâu xa của đạo). Xin lưu ý vế đối ở cổng đền Ngọc Sơn “Tầm nguyên phỏng cổ - trong việc ấy vô hạn ánh phong văn”;

- Trong tiệc rượu mở trường xuân 1834 này, họ nhắc nhau: “Xuân phong mãn mục tưởng dư hình” - tưởng nhớ người Thầy được sĩ phu tôn làm mẫu mực về chính họclà Lập Trai Phạm Quý Thích mà cuối xuân năm sau, ngày 29 - 3 - 1835, họ sẽ cùng nhau làm Giỗ 10 năm tại giảng đường mang biển Lập Trai được Minh Mạng chuẩn bị cho lưu chỉ để hương khói, cạnh Hồ Đình là cách Phương Đình mới xây không bao xa;

- Vũ Tông Phan, người duy nhất trong cuộc rượu đã đỗ tiến sĩ từ năm 1826, lại từng giữ chức Đốc học Bắc Ninh nên được cử làm Hội trưởng cả Văn hội lẫn Hướng Thiện hội, trong bài xướng của mình láy đi láy lại 3 lần chữ “chính” trong những câu tưởng như thuần tuý tả cảnh, nhưng có ngụ ý: mọi sự ở Phương Đìnhđều phải chínhthì mới thực là phương chính, tức ngay thẳng, đúng đắn:

Nhật chính tà tà, phong chính thanh

Nhiễu tường trúc thụ chính thanh thanh

(Ánh mặt trời đúng đang xế bóng, gió đúng lúc mát lành/ Rặng trúc đúng thì xanh ngắt)

Tiếp hai câu về cảnh là hai câu về người - những con người “đồng anh tuấn” theo đúng “điển” và “hình” của sự nghiệp chính học(“xuân phong”) ở PhươngĐình, thì càng phải phương chính.

- Chủ nhân của Phương đình hẳn đã thấu hiểu định hướng đó của các bạn đồng thanh khí nên trong một bài hoạ đáp, tiên sinh tuyên bố lập trường dứt khoát của ông đồ Phương đình là phương chính:

Cố tri viên thị trí

Nguyện thủ phương vi hình

(Vẫn biết tròn là khôn ngoan/ Nguyện giữ vuông làm khuôn mẫu)

Tròn khi vận động luôn thay đổi hướng, chỉ khối vuông mới giữ được định hướng trước sau như nhất! hành xử có thể tuỳ thời thế, nhưng chí hướng và tâm thuậtcủa kẻ sĩ phải luôn luôn phương chính.Thiết nghĩ đó là điều các vị tôn sư ở các ngôi trường có chữ “đình” đã cùng “nguyện”, cùng “tải thư”, tức minh thệ với nhau.

Bốn năm sau, khi dựng xong Văn chỉ Thọ Xương để tập hợp Nho sĩ bình dân trong các phường thôn nội ngoại thành Hà Nội, họ đã cụ thể hoá mục tiêu làm người phương chính đó như sau: “làm quân tử trong làng, làm thầy đồ trong xã” (Nguyễn Văn Lý: Văn bia ở Văn chỉ Thọ Xương, 1838), thực hiện “trung với dân”, “nghĩa vụ của người quân tử là lo cho dân” (Vũ Tông Phan: Văn bia trung tu đền Thần Hoả, 1841). Thiết tưởng nhân đây cũng nên nói thêm: “chủ trương” này chẳng những các ông đồ Đông Kinh Nghĩa Thục đã tuân thủ, mà đúng một trăm năm sau, các hậu duệ của họ, dẫu qua lò “Tây học” nhưng vẫn giữ vững cốt cách Nho phong và tinh thần ưu dân ái quốc đã nêu thành lời kêu gọi: “Anh em thanh niên: đến lúc chúng ta về làm việc làng” (Báo Thanh nghị, số tháng 9 - 1941).

Để có thể thực hiện những “chủ trương” giáo dục của mình, nhóm Nho sĩ trong hội Hướng Thiện không nệ kinh sử Tầu mà chú trọng các sách lịch sử, địa dư và nhân vật chí dân tộc, thơ văn ca ngợi anh hùng và di tích lịch sử - văn hoá Việt tộc do các nho gia Việt Nam tiền bối và chính họ biên soạn. Một số vị danh sư của các thục xá này như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu đã tự biên soạn sách văn mẫu cho trường mình “vệ tinh” của môn sinh sử dụng - một hiện tượng về sau trở nên phổ biến ở các thục xá, còn ít được chú ý nghiên cứu do định kiến với văn chương trường ốc, cũng sai lầm như định kiến một thời cho rằng thơ ca thù tạc xướng hoạ hay thì hay nhưng vô bổ! Họ chủ trương kết hợp văn hoá sáng đẹp của nước Việt xưa với những chuẩn mực đạo Nho cổ nhân bản để dẫn dắt sĩ tử lớp sau (Vũ Tông Phan: Câu đối tại bái đường Văn chỉ Thọ Xương).

Qua sự trình bày sơ lược trên có thể thây nhóm Nho sĩ trong hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn có một quan điểm giáo dục đối lậpvới quan điểm giáo dục chính thống của Tống Nho, lại là Tống Nho phản động nhất dưới triều đại nhà Thanh mà triều Nguyễn ra sức khuôn theo. Có thể tạm tổng kết những luận điểm đối lập chính trong bảng sau đây.

Bảng: Giáo dục nho học triều Nguyễn (thế kỷ XIX)
Bảng: Giáo dục nho học triều Nguyễn (thế kỷ XIX)
Luồng tư tưởng giáo dục phi chính thống mang đậm dấu ấn nhân bản và dân tộcnày của Hướng Thiện hội, truyền thừa qua dòng họ và môn sinh đã hướng đạoNho sĩ bình dân hoạt động trong các phường thôn và làng xã suốt thế kỷ XIX, trở thành một cội nguồn văn hoá - xã hội sâu xa về tư tưởng và dự bị những cơ sở về tổ chức - nhân sự cho phong trào DuyTân - Nghĩa Thục, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào ở đầu thế kỷ XX bùng phát mạnh mẽ và rộng khắp.

Chú thích

1) Nguyễn Văn Siêu: Phương Đình tuỳ bút lục.Trần Lê Sáng dịch - Nxb Văn học, Hà Nội 1996, tr 258.

2) Trong tham luận này, để phân biệt chữ “Đình” (viết hoa) chỉ tên hiệu của người, chữ “đình” (viết thường) chỉ tên trường.

3) Tuyển tập văn bia Hà Nội - Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1978, T. II, tr 69.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.