Trang trí rên đồ gỗ của người Tà - Ôi
Các kiểu thức trang trí ở đây cho thấy nét đặc sắc, sự công phu, tỉ mỉ đạt đến một trình độ tư duy cao ở các nghệ nhân dân gian nơi đây. Họ như thể hiện tâm tư tình cảm, nguyện vọng của mình trước môi trường tự nhiên và xã hội qua nghệ thuật trang trí mà nét nổi bật là những hoa văn chìm nổi trên các sản phẩm, dệt đan và đồ gỗ. Những màu sắc đặc trưng để tạo hình thông dụng nhất là đỏ, đen, muộn hơn có thêm màu vàng và màu xanh.
Ngày nay tiếp cận với lối sống mới theo cơ chế thị trường, họ còn sử dụng một số màu khác như: trắng (bằng hạt cườm nhựa…), hồng, huyết dụ, tím… Song không vì thế mà mất đi vẻ đặc trưng của những loại màu chủ đạo nói trên.
Màu đen được lấy ra từ cây tarơơmvà nước vỏ ốc xoắn (Iraklovăr). Loại cây này mọc ở rừng sâu, được người dân mang về trồng gần nhà. Cây cao từ 1 – 1,5m, thân có nhiều đốt ngắn, to bằng ngón tay út người lớn. Lá giống lá dâu tằm nhưng diềm lá ít khía cạnh hơn, bẹ lá rộng bằng lá mít già. Còn vỏ ốc xoắn được lấy ở các khe nhỏ, hốc đá ẩm thấp phía đầu nguồn.
Sau khi có đủ vật liệu pha chế màu, người ta lấy cây tarơơm(dùng cả thân, rễ, lá) ngâm nước trong một cái chum, sau khoảng 7 – 10 ngày mới vắt lấy nước và vứt bỏ xác. Vỏ ốc xoắn sau khi để khô, người ta nướng vào lửa cho đến lúc chuyển sang màu trắng thì ủ vào một cái gùi nhỏ, nén chặt với nhiều lá chuối. Ủ khoảng 10 ngày, chúng tự phân huỷ thành bột vôi. Sau đó người ta đổ bột vỏ ốc vào chum có nước cây tarơơm và đánh đều, rồi lại lọc lấy cặn đọng ở đáy chum ra, tách riêng lấy nước. Nước này hơi quánh và cứ ủ ở chum đó để dùng lại khi cần thiết.
Màu xanh cũng được tạo ra từ nước cây tarơơm và vỏ ốc xoắn nhưng dùng lượng ngâm ít hơn, chỉ cần 2 lần ngâm với lượng nước bằng 1/4 lần so với cách tạo màu đen. Chế biến được 2 màu đen và xanh cùng từ một nguyên liệu mà chỉ cần thay đổi thời gian ngâm đã cho thấy sự tinh tế và sáng tạo của đồng bào. Cách làm như thế đã giúp cho giảm được khoảng thời gian làm lại nước ngâm mới từ đầu, vì cây tarơơm vốn đã tạo màu xanh.
Màu vàng cũng được chế biến từ rễ cây đằng đằng gọi là mrăk hoặc tôm abeal, lấy trong rừng sâu. Khi đào rễ cây về, người ta rửa sạch, cạo bỏ vỏ mỏng bên ngoài, xẻ dọc lấy lõi và chỉ giữ lại lớp vỏ thứ hai mà thôi. Sau đó dùng chiếc doan bào sắn (kanoar) để bào thành sợi nhỏ của rễ vỏ cây này. Khi bào xong, để tất cả vào chiếc nồi đồng nhỏ, đổ nước vừa phải, đậy nắp lại và đun thật lâu, nước trong nồi sẽ chuyển dần sang màu vàng.
Riêng màu đỏ, người Tà – Ôi ở Việt Nam không sản xuất được do không tìm thấy nguyên liệu ở địa phương. Họ phải trao đổi với người đồng tộc ở Lào bằng gà, vịt, gạo, vải dzèng. Khi đã có phẩm màu này, họ chỉ việc đổ vào nồi nước rồi pha vừa phải, khuấy đều là xong.
Trong quá trình trang trí, chỉ có đồ gỗ được quét màu lên các hình đã vẽ sẵn, trái lại hoa văn trên đồ vải và đồ đan đều phải qua quy trình nhuộm màu trước.
Đối với đồ vải mà nhất là vải dzèng, sau khi xe sợi xong, người ta cho sợi vào các chum, nếu đen thì ngâm vào chum có nhiều nước cây Tarơơm và vỏ xoắn ốc đậm đặc ngâm nhiều ngày. Cứ tối ngâm sáng vớt cho đến khi sợi đen thẫm mới đem ra phơi nắng liên tiếp 3 ngày. Sợ phai mất màu, người ta dùng nước củ nâu giã nhuyễn cho vào các chum nhuộm đó. Còn muốn có màu xanh thì vẫn ngâm tương tự như màu đen với dung dịch loãng hơn. Muốn có màu vàng thì vải sợi phải được nấu chung với rễ cây đằng đằng, nấu khoảng 2 giờ đồng hồ, khi nước màu vàng ngấm vào sợi thì vớt sợi ra phơi nắng hai ngày là được.
Còn đối với đồ đan ở đây phổ biến nhuộm màu là khi đan chiếu và gối. Sau khi lấy cây dứa rừng (Alớ) về, các cụ bà Tà Ôi tước nhỏ nó ra, rửa sạch rồi phơi khô, đến khi các lá dứa ngả sang màu trắng thì cuộn tròn từng lọn nhỏ, muốn có màu gì thì cách ngâm giống như nhuộm vải vậy. Song ở đây, loại chiếu và gối Ânchá chỉ dùng được 3 màu, đó là xanh, đỏ và vàng, sau này bà con còn sử dụng thêm màu tím.
Trang trí trên đồ gỗ là một thể loại nghệ thuật tương đối dễ thể hiện, dễ diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của người nghệ nhân, các đường nét phóng khoáng, tự do hơn, nó không bị gò bó hay hạn chế như các quy cách trang trí hoa văn trên nền vải và trên đồ đan.
Người Tà ôi có nhiều kinh nghiệm trong việc trang trí hoa văn trên đồ gỗ. Vì sống trong môi trường rừng núi, họ đã biết khai thác chất liệu gỗ để phục vụ đời sống và sáng tạo nghệ thuật. Họ biết thổi hồn vào những thanh gỗ để đem lại cho chúng vẻ đẹp có ý nghĩa hơn. Ở đồ gỗ trên các vách nhà, cột lễ đâm trâu, tủ giường, bàn ghế họ thường sử dụng các loại hoa văn chủ yếu sau:
Cột dùng trong lễ đâm trâu được kết hợp nhuần nhuyễn giữa điêu khắc và hội hoạ trang trí. Nó trở thành một biểu tượng có giá trị về mặt tôn giáo và tín ngưỡng. Người Tà Ôi thường tạc trên đỉnh cột lễ các hình đầu thú như: dê, trâu, có các hàng răng cưa tạo nên ý nghĩa của sức mạnh tập thể, những đường gấp khúc có độ biên hẹp mà đồng bào gọi là biểu tượng của hình cây chông. Hình ảnh của các hàng chông nhọn sắc rải rác xuất hiện trên nhiều cột lễ đâm trâu của người Tà Ôi, theo một bố cục hợp lí vừa bảo đảm kỹ thuật, vừa thể hiện mỹ thuật, đồng thời mang ý nghĩa sâu sắc khi chúng ta nhìn vào cách trang trí ấy.
Bên cạnh đó, mô típ hoa văn hàng rào cũng xuất hiện ở các cột lễ đâm trâu, là những đường thẳng đan chéo nhau hoặc những đường thẳng song song. Khoảng giữa các đường thẳng là những mô típ hoa văn của một số loài hoa rừng đan xen vào làm cho phần trang trí thêm sinh động, phong phú.
Các loại hình cây “đoác” cũng xuất hiện trên cột lễ đâm trâu, với những đường nét thô sơ đầy tính ước lệ. Người Tà Ôi đã đưa cây “đoác” vào ở đây nhằm để tôn vinh một thứ nguyên liệu tạo nên chất men cho cư dân bản địa. Rượu “đoác” rất ngon dùng để làm nước giải khát trong những lần đi rừng, để đón khách và còn dùng trong các lễ đâm trâu.
Nhìn vào cột lễ đâm trâu của người Tà Ôi, rất rễ hình dung thấy bức tranh kinh tế lấy nương rẫy làm chủ đạo. Những đặc sản của núi rừng mà họ có, những thành quả lao động, kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống ứng xử với hai môi trường tự nhiên và xã hội được bài trí trên cột lễ. Tất cả những hình tượng đó đều chứng tỏ rằng, người Tà Ôi có lối sống ưa thể hiện nội tâm hoà hợp với thiên nhiên khiến các dân tộc cận cư khác biết về mặt văn hoá và nghệ thuật của họ.
Ở vách nhà của người Tà Ôi, chủ yếu là vách nhà Rông, họ thường chạm khắc, vẽ các hoa văn như con thằn lằn mang ý nghĩa ngăn chặn cái xấu, cái ác, sự uế tạp; hoa Pirchoonh, cây rau rớn với ý nghĩa là nguồn lương thực dồi dào; hình con rồng (thần Tudê), mặt trăng, mặt trời với ý nghĩa tạo mối quan hệ tương hoà Trời - Đất; hình con voi, con khỉ, con cọp, con gấu tượng trưng cho nền kinh tế săn bắn và hái lượm; hình con gà trống mong được đánh thức để đi làm, con gà mái mong sự đông đúc sum vầy của dòng họ, gia tộc. Bên trong ngôi nhà là sự bày biện của những tấm da thú, đầu thú hàm răng lợn rừng để chứng tỏ sức mạnh của cộng đồng làng.
Với sự sáng tạo của các chủ nhân, trên các vật dụng đồ gỗ họ còn chạm trổ hình cây chuối, cây dứa, con trâu, con lợn, con gà, con dê, bếp lửa để phản ánh cuộc sống quen thuộc mà họ đang tận hưởng.
Với những đường nét thô sơ mang tính ước lệ, đồng bào Tà Ôi đã đưa những vật dụng, giống cây, vật nuôi vào trên nền các đồ gỗ, tưởng như bỗng chốc làm cho các ngôi nhà, tủ, giường, bàn, ghế mang hơi thở của bức tranh cuộc sống cộng đồng.
Trong một chừng mực nào đó, các ý tưởng của người Tà Ôi đã được thể hiện rõ thông qua các kiểu thức trang trí, bởi những hoa văn đa dạng và đầy đủ ý nghĩa. Họ là những người đã truyền tải được một phần kho báu văn hoá của dân tộc mình đến với các dân tộc khác.
Với các sắc màu chủ yếu là sơn, quét nhưng hoa văn trên đồ gỗ lại có những đường nét phóng khoáng, tự do hơn, nó không bị gò bó hay hạn chế như các quy cách trang trí hoa văn trên nền vải và đồ đan. Người Tà Ôi đã gặt hái được nhiều thành công trên lĩnh vực trang trí hoa văn trên đồ gỗ bằng các đợt những nghệ nhân Tà Ôi tham gia Festival Huế và họ rất tự hào về nghệ thuật truyền thống của mình. Những ngôi nhà Rông, các tượng nhà mồ và đặc biệt là cột lễ đâm trâu đã in dấu ấn văn hoá bởi các kiểu thức trang trí tuyệt vời.
Ngày nay, có nhiều dự án bảo tồn và phát triển nghề dệt dzèng, đan lát và điêu khắc của người Tà Ôi đang được thực hiện. Đó là một tín hiệu vui để những chủ nhân của nó có dịp trổ tài dệt cửi, chèn hoa văn, vẽ hoa văn, chạm trổ những đường nét mang hơi thở văn hoá của dân tộc mình, sánh cùng với các phức hệ hoa văn khác trong cộng đồng văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam.








