Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/10/2006 15:39 (GMT+7)

Trần Đức Thảo - Sự ngơ ngác của người lữ hành vất vả

Không phải đợi đến khi là sinh viên trường Đại học Sư phạm Văn khoa, học bộ môn "lịch sử tư tưởng nhân loại" tôi mới biết giáo sư Trần Đức Thảo, mà từ năm 1952, tôi đã là một trong những người đón ông ở khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc, trên đường ông về nước tham gia kháng chiến. Nhưng trong số hơn nghìn người mít tinh đón ông, có lẽ không nhiều người như tôi lại đã từng đọc bài viết rất xúc động của ông thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp bày tỏ nhiệt tình yêu nước nồng nàn đối với đất nước vừa giành được độc lập hồi tháng 8 -1945. Bài viết, đúng hơn là thư gửi về Tổ quốc được in trên tờ Cờ giải phóng, cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, in rất đẹp, giấy trắng tinh, chữ Cờ giải phóngmàu đỏ tươi, in ở nhà in IDEO, Tràng Tiền, và theo tôi nhớ chỉ ra được sáu bảy số rồi thay bằng Sự thậtcủa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác.

Ông Nguyễn Đình Thi viết: " Mấy năm sau, những ngày về Hà Nội, tôi được biết anh Trần Đức Thảo làm Trưởng khoa Trường đại học của ta", người ta cũng gọi ông là Chủ nhiệm khoa Sử! Chiếc thẻ sinh viên năm thứ ba ban Văn học năm học 1955-1956, tôi vẫn giữ làm kỷ niệm, với chữ ký của giáo sư Trần Đức Thảo với chức danh Phó giám đốc trường Đại học Sư phạm Văn khoa, một chữ ký giản dị, không kèm theo họ, chữ "t" ký như chữ "t" viết thường chứ không viết hoa, đủ chứng minh sự lầm lẫn của ông Thi. Vậy đó, giáo sư Trần Đức Thảo là Phó giám đốc trường Đại học Sư phạm Văn khoa bên cạnh giáo sư Phó Giám đốc Nguyễn Mạnh Tường chứ không phải là trưởng khoa. Cũng xin nói thêm, " trường đại học của ta" trong câu trích của Nguyễn Đình Thi rất mơ hồ, cả nước (miền Bắc) lúc đó mới chỉ có ba trường đại học, Đại học Văn khoa do giáo sư Đặng Thai Mai làm giám đốc, Đại học Sư phạm khoa học, giám đốc là giáo sư Lê Văn Thiêm và Đại học Y dược khoa giám đốc là giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di. Tới khi hai lớp Văn ba và Sử ba chúng tôi tốt nghiệp tháng 7 - 1956, tháng Chín, tháng Mười năm đó mới có thêm ba trường đại học Tổng hợp, Bách khoa và Nông lâm.

Cái ấn tượng sinh viên lớp chúng tôi nhớ mãi là sau mỗi bài giảng, giáo sư Trần Đức Thảo thường nhún vai, khoát tay, nở một nụ cười ngơ ngác như có ý nói: "Thế đấy, lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại nó như thế đấy, thật chẳng hề đơn giản chút nào!" Thầy dành nhiều thì giờ nhất để giảng về Hegel, và ở Hegel chủ yếu là hạt nhân duy lý: Cái gì có lý, cái ấy tồn tại, cái gì tồn tại, cái ấy có lý(ce qui a raison, existe, ce qui existe a raison). Có lẽ người lữ hành vất vả cũng như một số môn đệ của thầy ở lớp Văn ba chúng tôi suốt đời vẫn ngơ ngác về cái mệnh đề xem ra vô cùng đơn giản mà lại hóa ra hết sức phức tạp này, dẫu cả thầy và một số học trò đã phải đi thực tế ở nông trường hoặc hợp tác xã, ít nhất cũng dăm ba tháng, nhiều tới một vài năm để thể nghiệm cái mệnh đề đó.

Ông Nguyễn Đình Thi viết: " Những năm 60, tôi thấy anh Thảo vất vả nhiều, và anh còn gặp một nỗi buồn trong đời tư". Vất vả thì khỏi phải nói rồi. Một lần khoảng năm 66-67 gì đó, tôi thấy thầy ở chợ Hàng Da. Thầy đi chiếc xe đạp Peugeot con vịt, chúng tôi vẫn gọi đùa chiếc xe trẻ con Liên Xô thầy đi bằng cái tên như thế, vì người thầy cao lớn như Tây, đi chiếc xe trẻ con trông rất ngộ. Thầy đang mặc cả mua một bó củi nứa to bằng chiếc vỏ phích, nứa chẻ đôi xếp quay lưng vào nhau rỗng như một ổ rốc két. Tôi lặng lẽ quan sát người lữ hành mặc cả: "Hào rưỡi có được không?" "Cái ông này, củi nứa chứ báu ngọc gì mà nói thách". Cuối cùng, sau những ngày đi thực tế, chẳng biết đầu óc người lữ hành có thực tế hơn chút nào không, nhưng cũng đành chấp nhận giá hai hào, tuy chỉ mua một bó (có thể chỉ đủ tiền mua một bó, hay là vẫn hi vọng đun hết, mua ở chợ khác được giá hào rưỡi chăng?). Nhìn nét mặt ngơ ngác của thầy giữa cái có lý và đang tồn tại, tôi quyết định thôi không đến chào thầy nữa, thầy đi đằng thầy rồi, tôi đi đằng tôi. Lúc này, tôi đã bỏ nghề viết văn được ba bốn năm, lòng lại bỗng thấy trăm mối tơ vò, lại muốn vồ ngay lấy bút ngồi vào bàn viết.

Còn nỗi buồn riêng của thầy mấy năm cuối thập kỷ năm mươi lẽ ra chẳng nên khơi lại làm gì nhưng vì ông Thi đã đụng tới nó và nó lại có đoạn kết thúc hơi bi hài, ít người biết, thiết tưởng cũng nên nói ra. Nỗi buồn riêng, đó là đứa con mới sinh ít lâu bị chết, vợ bỏ đi lấy một người khác ở vị thế chắc chắn hơn, nhiều ánh hào quang hơn. Tới khi người lữ hành vất vả đã đi trọn con đường của mình, lọ tro hài cốt từ bên Pháp gửi về được quản ở nhà tang lễ 125 Phùng Hưng, người vợ cũ chẳng hiểu sao bỗng nhớ tới tình xưa nghĩa cũ, khăng khăng kiến nghị đòi đưa lọ tro vào nghĩa trang Mai Dịch, chẳng hiểu do động lòng thương xót hay muốn nhân đó phủ thêm chút hào quang lên nhân cách của mình. Nhưng cái lý do đó có thể tồn tại. Muốn vào Mai Dịch, phải có Huân chương Độc lập hạng Nhất hoặc cao hơn hoặc theo tiêu chuẩn khác, Tang chế chíđã ghi rõ, trong khi đó người lữ hành vất vả chỉ được huân chương độc lập Hạng Ba. Dùng dằng hơn bốn mươi ngày lưu lại ở 125 Phùng Hưng cuối cùng lọ tro đành đưa ra khu A nghĩa trang Văn Điển.

Nếu quả thực con người có linh hồn và sau khi chết đi, linh hồn vẫn còn tồn tại, tôi tin chắc linh hồn người lữ hành vất vả vẫn chưa hết ngơ ngác trước đoạn cảnh "Thế là finita la comedia" này.

Nguồn: Văn nghệ, số 44, 01/11/2003

Xem Thêm

TS Lê Công Lương: Một đời “đắm đuối” cùng công tác hội
Trong dòng chảy của đời sống xã hội, có những con người không xuất hiện nhiều trên diễn đàn công chúng, nhưng dấu ấn của họ lại hiện diện bền bỉ trong từng giai đoạn hoạt động của tổ chức. Họ chọn cách cống hiến lặng lẽ, kiên trì và dài hơi.

Tin mới

Góp phần mang sắc Xuân đến với cộng đồng
Trong hai ngày 24 - 25/01, Ủy ban Nhân dân xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã tổ chức Ngày hội “Xuân mới thêm vui, thêm xanh” tại sân vận động bản Lũng Xá – Tà Dê (xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La) với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng rộn ràng vui tươi chào mừng năm mới của đồng bào Mông địa phương.
Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1 đến thăm và chúc Tết Liên hiệp Hội Việt Nam
Ngày 3/2, trụ sở Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN), đoàn cán bộ Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1 do Phó Chính ủy Sư đoàn 308 - Đại tá Vũ Ngọc Lâm dẫn đầu đã đến thăm, tặng quà, chúc Tết cán bộ, công chức, người lao động LHHVN. Đây là hoạt động thường niên giữa hai bên trải dài suốt mấy chục năm qua kể từ khi hai đơn vị kết nghĩa.
VUSTA tổ chức Chương trình về nguồn tại Khu di tích lịch sử K9 chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng
Ngày 03/02, Đảng uỷ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Chương trình về nguồn ý nghĩa tại Khu di tích lịch sử K9 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội). Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026).
Hội Mã số Mã vạch Việt Nam: biến những sọc đen trắng đơn thuần trở thành tấm “hộ chiếu”
Sáng 31/1, tại Hà Nội, Hội Mã số Mã vạch Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và kỷ niệm chặng đường 25 năm hình thành, phát triển (1999 - 2024). Sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá toàn diện những thành tựu trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số, đồng thời xác định các nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn 2026 – 2030 của Hội.
Trí thức trẻ - Lực lượng tiên phong, mang khát vọng đổi mới
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045, Đảng và Nhà nước đã xác định KHCN,ĐMST&CĐS là một trong ba đột phá chiến lược. Từ Văn kiện Đại hội XIV đến các nghị quyết trụ cột như Nghị quyết 57, Nghị quyết 68 và Luật KH,CN&ĐMST năm 2025, con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức KH&CN trẻ được đặt ở vị trí trung tâm của tiến trình phát triển.
Hội Tự động hóa Việt Nam khẳng định vai trò kết nối, nâng cao năng lực công nghệ và hội nhập cho doanh nghiệp Việt
Hội Tự động hóa Việt Nam vừa tổ chức thành công Hội thảo Cơ hội và Chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp KH&CN, nhằm giúp doanh nghiệp hội viên hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ nhận thức đúng về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng lực công nghệ, định hướng trở thành doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển bền vững.
Giải pháp để hiện thực hóa Nghị quyết 57
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57, Việt Nam đặt mục tiêu gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, nhân lực, hạ tầng để bứt phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, dịch vụ công trực tuyến được coi là động lực quan trọng, vừa nâng cao hiệu quả quản trị, vừa đưa chính sách đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp.