Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 03/05/2012 21:22 (GMT+7)

Trầm tích – bản chất và thách thức

Xói lở

Xói lở địa chất rất đa dạng ở các khu vực khác nhau trên bề mặt trái đất bởi sự khác biệt về tính chất của đất đá và các điều kiện khí hậu, sinh dưỡng. Kiểm soát xói lở địa chất thường rất khó đạt được bởi các điều kiện tự nhiên đã tồn tại qua nhiều thế kỷ không thể dễ dàng thay đổi để hạn chế xói lở một cách đáng kể. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện địa phương, vẫn có thể tạo ra những bước cải thiện để giảm xói lở.

Xói lở đang bị các hoạt động của con người làm cho trở nên trầm trọng, đến mức hiện tượng xói lở gia tăng gấp 100 lần so với xói lở địa chất chẳng phải là chuyện hiếm hoi. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đô thị hóa, xây dựng đường sá, khai thác khoáng sản và biến đổi điều kiện dòng chảy, kiểm soát các dòng chảy sông đang làm tình trạng xói lở trở nên trầm trọng hơn.

Xói lở và quá trình phân phối lại trầm tích là những nguyên do đầu tiên dẫn đến việc thay đổi diện mạo cảnh quan và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đất. Xói lở đất có mối liên hệ chặt chẽ với suy thoái đất; hiện tượng mất đất quá mức do quản lý yếu kém có liên quan mật thiết đến sản lượng và an ninh lương thực và vì vậy cũng liên quan đến sử dụng tài nguyên đất bền vững trên toàn cầu.

Xói lở đất có sự biến động lớn theo không gian nên cần được theo dõi trên từng khu vực rất nhỏ. Chính thế, rất khó để đưa ra tỷ lệ xói lở cho một khu vực rộng lớn, chưa kể đến khảo sát tổng thể cho một quốc gia và nhất là toàn cầu.

Ở khu vực miền núi, lở đất, lở đá và sụt lở các sườn núi có thể là nguồn chính tạo ra trầm tích và là thảm họa nghiêm trọng nhất trong số các thảm họa liên quan đến nguồn nước. Tại Nhật Bản, số người bị thiệt mạng do thảm họa lở đất trung bình hàng năm là 170 người. Ở Mỹ, lở đất gây thiệt hại ước tính 2 tỷ USD và 20-25 người chết mỗi năm.

Tình hình còn tồi tệ hơn ở các nước đang phát triển và các khu vực miền núi xa xôi do thiếu nguồn tài chính và nền quản lý thảm họa một cách hợp lý. Lở đất là hiện tượng phổ biến ở khu vực miền núi trên khắp thế giới.

Mức độ xói lở đất toàn cầu hiện nay ước tính vào khoảng 10,2 tấn/ha mỗi năm, với tốc độ mất đất tăng khoảng 1,5 tấn/ha mỗi năm (khoảng 17,2%) trong thế kỷ 20. Ước tính tới những năm 2090 con số này sẽ tăng thêm 14%, với 65% tỷ lệ gia tăng là hệ quả của biến đổi khí hậu cùng gia tăng xói mòn và khoảng 35% là do dân số gia tăng kết hợp với việc  thay đổi mục đích sử dụng đất.

Để giảm nhẹ thiệt hại, các hoạt động kiểm soát thảm họa phải được thiết lập ở nhiều khu vực xói lở.

Khu vực xói lở nghiêm trọng nhất được dự đoán là Châu Á và nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. (Ảnh: China Yangtze Three Gorges Project Development Corporation).

Biến động trầm tích

Cần lưu ý rằng mức độ xói lở và khối lượng trầm tích là hai khái niệm khác nhau. Khối lượng trầm tích từ một lưu vực sông chỉ phản ánh phần trầm tích xói lở trên lưu vực sông đến được tới cửa sông.

Rất nhiều con sông trên thế giới có thể cho thấy bằng chứng biến động về dòng trầm tích do mục đích sử dụng đất bị thay đổi. Tác động của thay đổi mục đích sử dụng đất đến dòng trầm tích đặt ra giả thiết rằng các dòng trầm tích “tự nhiên”, nghĩa là trước khi có sự tác động của con người, bị nhân đôi bởi các tác động của con người. Song, với gần 50% dòng trầm tích đã bị giữ lại trong các hồ chứa, cùng với việc xét đến các nguyên nhân khác của việc giảm dòng trầm tích, thì dường như dòng trầm tích thực tế hiện nay còn ít hơn dòng trầm tích tự nhiên, khi chưa có sự tác động của con người.

Tuy nhiên, các chuyên gia hàng đầu nhấn mạnh rằng điều quan trọng là tính nhạy cảm của dòng trầm tích sông đối với những thay đổi môi trường gần đây có thể nhận thấy ở cả tính chất nghiêm trọng tiềm ẩn của những thay đổi này đối với chức năng của hệ sinh thái trái đất, ví dụ thông qua chu trình địa chất; đối với các tác động và vấn đề mang tính địa phương và khu vực như sự thu hẹp các đồng bằng do giảm phù sa cung cấp, sự hủy diệt các rạn san hô do gia tăng trầm tích tới khu vực ven biển…

Bởi lẽ, trầm tích của dòng sông không chỉ là nguồn gây ô nhiễm nước do chính khối lượng và trọng lượng của nó, trầm tích còn đóng vai trò là chất xúc tác chuyên chở và lưu giữ các dạng ô nhiễm khác. Thông thường, mật độ trầm tích càng cao thì chất lượng nước càng tệ. Ngoài ra, các hóa chất và chất thải cũng được hấp thu vào các hạt trầm tích.

Trầm tích sông hồ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng nước. Trầm tích lơ lửng hút các chất ô nhiễm từ nước, nhờ thế mà làm giảm mật độ của chất gây ô nhiễm trong nước. Tuy nhiên, chất gây ô nhiễm cũng có thể bị giải phóng khi trầm tích bị nhiễu loạn.

Bồi lắng hồ chứa

Thật khó để tìm kiếm một dòng sông chưa bị con người can thiệp. Bằng việc sử dụng chỉ số hồ chứa (Reservoir index – RI), các dòng sông có thể được phân loại thành sông tự nhiên (RI dưới 10%), bán tự nhiên (RI trong khoảng 10-50%), bán kiểm soát (RI trong khoảng 50%-100) và bị kiểm soát (RI lớn hơn 100%). RI là tỷ lệ công suất chứa của các hồ chứa trên sông so với giá trị lưu lượng trung bình hàng năm của dòng sông. Theo đó, các dòng sông Colorado, sông Nile, sông Hoàng Hà và Mississippi là các dòng sông bị kiểm soát, sông Dương tử và sông Pearl là sông bán tự nhiên.

Việc xây dựng và vận hành các hồ chứa có thể mang lại nhiều lợi ích cho xã hội như kiểm soát lũ, cung cấp nước, thủy điện, tưới tiêu, phục vụ giải trí và các lợi ích môi trường. Tuy nhiên, các tác động mặt trái của hồ chứa cũng có thể tồn tại song song. Ngay khi hồ chứa bắt đầu trữ nước, quá trình luân chuyển trầm tích trên sông sẽ bị gián đoạn. Phần lớn các trầm tích bị giữ lại tại các hồ chứa, tạo thành một “châu thổ” và một vùng nước tù ảnh hưởng rộng đến hạ nguồn. Trầm tích hồ chứa cũng giảm sức chứa của hồ và vì vậy cũng gây suy giảm chức năng của nó. Tương tự, nước “đói” từ các hồ chứa có thể gây suy thoái lòng sông hạ nguồn. Nếu không có biện pháp để giải quyết vấn đề trầm tích, hồ chứa có thể mất đi chức năng thiết kế ban đầu và tạo ra các vấn đề về an toàn.

Theo thống kê của Ủy ban Đập lớn Quốc tế (ICOLD), năm 2003 thế giới có tổng số 49.697 đập lớn, trong đó Trung Quốc sở hữu 25.800 đập, tiếp theo là Mỹ với 8.724 đập, rồi đến Liên Xô cũ, Nhật và Ấn Độ. Đập lớn theo định nghĩa của ICOLD là đập có độ cao từ 15m trở lên tính từ đáy đến đỉnh đập hoặc có công suất chứa lớn hơn 1 triệu m 3. Ủy ban này cũng ước tính rằng tỷ lệ giảm công suất chứa của hồ do trầm tích là khoảng 0,5-1,0% – tương ứng với mức tổn thất mỗi năm khoảng 45 tỷ m3 (tính theo tỷ lệ 0,75%).

Đây quả là một tổn thất lớn!

Giải pháp cho vấn đề trầm tích

Cùng với nhận thức về tầm quan trọng của các vấn đề liên quan tới trầm tích, xã hội đã dành sự chú ý ngày càng tăng cho vấn đề bồi lắng trầm tích và xói lở. Rất nhiều các giải pháp nhờ thế đã được triển khai trong nửa đầu thế kỷ 21.

Đẩy mạnh nghiên cứu:Hiện vẫn còn rất nhiều vấn đề, hiện tượng cần được làm sáng tỏ và thiết lập các quy tắc mới để công việc quản lý bồi lắng và xói lở trong tương lai dựa trên cơ sở mang tính khoa học và bền vững hơn.

Lên kế hoạch tổng thể và hợp nhất: Lên kế hoạch quản lý bồi lấp và xói lở rõ ràng rất cần một cách tiếp cận tổng thể và hợp nhất hơn để quản lý tác động nước-đất và các chính sách phù hợp với thực tế ở cấp độ dẫn nước, bao gồm cả tương tác với vùng nước ven biển.

Củng cố hoạch định chính sách:  Hiện vẫn còn rất ít luật định trong lĩnh vực nước, và có vẻ như công tác thực thi còn khó khăn hơn so với ban hành luật. Chính vì vậy, thiết lập các nhóm thực thi pháp luật là một trong các biện pháp cần áp dụng.

Thắt chặt quản lý: Định nghĩa “sự hài hòa giữa con người và tự nhiên” đã trở nên phổ biến hơn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hai thực thể này. Quản lý trầm tích cũng vì thế mà thay thế kiểm soát dòng sông. Quản lý cần trở thành khái niệm cơ bản của việc quy hoạch và thiết kế dòng sông.

Hợp tác quốc tế:Hợp tác quốc tế bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến hiện tượng xói lở và bồi lắng, đặc biệt là ở phương diện quản lý.

Những thách thức của việc quản lý dòng sông hiện tại không còn chỉ là vấn đề kỹ thuật – làm thế nào để kiểm soát dòng sông, mà còn là vấn đề quản lý – làm thế nào để phân phối nước giữa các nguồn tiêu dùng cạnh tranh trong khi vẫn duy trì được các dịch vụ hệ sinh thái.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).