Tình hình sử dụng chế phẩm EM trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường tại huyện Quảng Điền – TT Huế
1. Tình hình chung
Quang Điền là huyện nằm phía bắc của tỉnh, thuộc vùng thấp trũng và là huyện thuần nông. Với diện tích tự nhiên 16.307,7 km2. Trong những năm qua nền kinh tế của huyện có bước tăng trưởng đáng kể, việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống ngày càng được chú trọng hơn. Khoa học và công nghệ được xem là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển trên mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói, giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện.
2. Việc ứng dụng chế phẩm EM vào trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường tại huyện Quảng Điền trong những năm qua
- Việc ứng dụng các chế phẩm sinh học vào trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường trong những năm qua rất được huyện quan tâm, xem đây là một bước đột phá để phát triển nền nông nghiệp của huyện, nhằn tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đạt năng suất và chất lượng.
- Đặc biệt, sau khi được chuyển giao công nghệ điều chế chế phẩm EM thứ cấp, cho đến nay, việc ứng dụng chế phẩm EM vào trong SXNN và BVMT đã đem lại những kết quả nhất định, thể hiện trên các lĩnh vực sau:
a. Trong lĩnh vực chăn nuôi:
- Năm 2006 đã thực hiện mô hình “Ứng dụng tiến bộ KHKT trong nuôi lợn thịt lai F1 ngoại có sử dụng chế phẩm vi sinh EM tại trang trại huyện đội huyện Quảng Điền”: Sau 3 tháng thực hiện mô hình đã đem lại hiệu quả cao (lợn tăng trọng nhanh; năng suất và chất lượng cao, hạn chế được ô nhiễm môi trường trong việc nuôi; lãi thu được từ 300.000 – 350.000 đ/con. Mô hình đã đoạt giải khuyến khích Giải thưởng sáng tạo KHCN tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2007).
- Đã nghiên cứu và đưa chất bã sắn vào để lên men sinh học EM áp dụng vào chăn nuôi đem lại hiệu quả khá cao, môi trường chăn nuôi ít ô nhiễm. Sau đó đưa vào ứng dụng ở chăn nuôi gà, kết quả một số bệnh thường gặp ở gà giảm (nhe bệnh Ecoli, cầu trùng).
- Đã đưa chế phẩm EM vào ứng dụng trong dự án sinh kế tại xã Quảng Thái mang lại hiệu quả tốt trên các mặt: Sau 100 ngày nuôi, trọng lượng lợn đạt từ 70 – 72 kg/con; giảm thiểu được ô nhiễm môi trường trong quá trình nuôi.
b. Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản là một trong những thế mạnh của huyện. Tuy nhiên trong những năm qua việc nuôi trồng thuỷ sản đã gặp những khó khăn, đó là tình hình ô nhiễm môi trường nước dẫn đến dịch bệnh ở tôm, cá… Vì vậy ứng dụng các chế phẩm sinh học nói chung và chế phẩm EM nói riêng vào trong NTTS trong những năm qua đã đem lại hiệu quả nhất định trong NTTS. Môi trường nước được cải thiện, một số bệnh ở các đối tượng nuôi (tôm, cá…) giảm, năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn.
- Đầu năm 2008, huyện đã phối hợp với Khoa Thuỷ sản – ĐH Nông nghiệp Huế thực hiện mô hình “Nuôi tôm sú sử dụng chế phẩm EM và các hợp chất của chúng tại các hồ nuôi bị ô nhiễm ở xã Quảng An”. Sau thời gian thực hiện trong quá trình nuôi, môi trường nước không bị ô nhiễm, chất lượng tôm đạt cao (loại 40 con/kg đạt hơn 60%); sản lượng tôm đạt cao 850 kg/hồ 5000m2 thả mật độ 15 con/m2; 502 kg/hồ 5000m2 (hồ thả mật độ 8 con/m2).
c. Trong lĩnh cực trồng trọt
Trong những năm gần đây, sau khi đã được chuyển giao chế biến chế phẩm EM thứ cấp, nhiều hộ nông dân trên địa bàn huyện đã sử dụng chế phẩm EM để ủ rơm nhằm tạo ra một loại phân thay thế các loại phân vô cơ khác có hiệu quả trong trồng trọt. Từ đó đã giảm được một phần chi phí đáng kể, lượng sản phẩm an toàn hơn…
Không chỉ dừng lại ở việc thực hiện mô hình, việc ứng dụng chế phẩm EM đã được tập huấn và chuyển giao cho hơn 1.170 hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện và hơn 2.000 lít EM cho 120 hộ chăn nuôi. Đã đào tạo 22 lớp hơn 1500 học viên. Ngoài ra đã xây dựng các cơ sở chế biến chế phẩm EM cấp ở 3 xã (Quảng Vinh, Quảng An, Quảng Phú) nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân; đồng thời đã lồng ghép vào các chương trình giảng dạy của TT Dạy nghề huyện để chuyển giao công nghệ chế biến EM thứ cấp.
3. Định hướng phát triển việc ứng dụng chế phẩm EM trong SXNN và BVMT.
Nhằm hướng đến một nền nông nghiệp sạch, đảm bảo 3 lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường. Phát huy những kết quả đã đạt được trong những năm qua, việc ứng dụng chế phẩm EM trong SXNN và BVMT trên địa bàn huyện sẽ tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
a.Trên cơ sở những mô hình ứng dụng có hiệu quả, đẩy mạnh việc mở rộng và áp dụng trên những địa bàn phù hợp.
b.Phát triển và ứng dụng mạnh trong lĩnh vực chăn nuôi (lợn, gà, bò…). Đặc biệt là ở các trang trại, gia trại; nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra năng suất và sản lượng cao trong chăn nuôi; giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ của nhân dân.
- Quảng bá và nhân rộng mô hình nuôi tôm sú sử dụng chế phẩm EM trên địa bàn huyện; đồng thời hợp tác với các Viện nghiên cứu, các trường ĐH để nghiên cứu ứng dụng thực hiện các mô hình nuôi trồng thuỷ sản với các đối tượng nuôi khác.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tập huấn, chuyển giao thông qua các chương trình dạy nghề nông thôn; các HTXNN và các đơn vị tập thể khác.
- Xây dựng các cơ sở điều chế chế phẩm EM thứ cấp tại các xã còn lại để đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân.
- Ứng dụng vào sản xuất các mô hình rau an toàn, dần dần tạo được thương hiệu rau của Quảng Điền trên thị trường.
- Sử dụng chế phẩm EM vào việc xử lý môi trường khi có dịch bệnh xảy ra; môi trường sau lũ lụt.








