Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 09/04/2012 20:25 (GMT+7)

Tính hiệu quả của Đổi mới sáng tạo

ĐMST không chỉ là KHCN

KHCN lấy Tiền để làm ra Tri-thức; Còn ĐMST thì lấy Tri-thức để làm ra Tiền. KHCN chú trọng đến việc phát minh, sáng chế, xây dựng các lý thuyết, cấu trúc, tích lũy tri thức… mang tính hàn lâm; Còn ĐMST thiên về sử dụng tất cả những cái trên để tạo ra giá trị. Như vậy, KHCN tập trung chủ yếu vào khúc đầu (thượng nguồn) của chuỗi giá trị sản phẩm (với chủ yếu các phát minh sáng chế và ít thương gia-nhà ứng dụng CN); Còn ĐMST thì bao gồm cả khúc đầu, nhưng chủ yếu là khúc sau (hạ nguồn) của chuỗi giá trị sản phẩm (với cả nhà KHCN và chủ yếu là thương gia-nhà ứng dụng CN và vô số người tiêu dùng). KHCN quan tâm nhiều đến phát minh sáng chế nên chủ yếu dùng lý thuyết, cấu trúc thuần túy và đã chuẩn hóa trong KHCN và một số ít các cơ chế, quy định về quản lý (như các quy định về tài chính, thanh toán, nghiệm thu…). ĐMST và các thương gia-nhà ứng dụng CN phải biết tất cả các công đoạn trên cùng các sản phẩm trung gian của từng đoạn để “nhảy” ngay vào nếu có lợi. Để kinh doanh có lời, các công ty dựa trên CN, các thương gia-nhà ứng dụng CN không chỉ phải biết về KHCN mà còn phải hiểu rõ các quy định, cách làm ăn, mô hình, cơ chế… sản xuất-kinh doanh-hoạt động và làm việc với nhiều bên tham gia liên quan như thuế, hải quan, các loại giấy phép, các loại ưu đãi,vv. ĐMST không chỉ cải tiến về KHCN mà cả trong những lĩnh vực liên quan để sao cho kinh doanh trên cơ sở CN được tốt hơn. Đây chính là lý do vì sao người ta phân biệt: ĐMST mang tính CN và ĐMST phi CN (technological innovation and non-technological innovation). Trong khi KHCN dễ theo trào lưu như hướng tới các đột phá CN (technology breakthroughs), công nghệ cao, công nghệ nguồn, vv. thì ĐMST quan tâm đến tính hiệu quả, tính khả thi cho một hoàn cảnh cụ thể.

Mô hình KHCN (cũ)

Mô hình ĐMST (mới)

Hầu hết những người tài giỏi (trong một lĩnh vực nhất định) làm trong tổ chức của ta

Không phải hầu hết người tài giỏi làm cho ta, mà ta phải biết cách phát hiện và thu dụng được tri thức của những người tài chủ yếu ở bên ngoài

Ta phải phát minh, phát triển và làm hết việc kinh doanh, phân phối, bán hàng…

Thuê khoán ngoài về nghiên cứu-phát triển có lợi cho cả bên làm thuê khoán và bên thuê khoán căn cứ vào ưu thế, chiến lược, định vị, điều kiện, hoàn cảnh, … của từng bên

Lợi nhuận chủ yếu dựa trên phát minh sáng chế, nghiên cứu-phát triển

Để có lợi nhuận không nhất thiết phải xuất phát từ nghiên cứu

Nếu ta thương mại hóa trước tiên thì sẽ thắng lợi

Có mô hình kinh doanh tốt quan trọng hơn đưa ra thị trường đầu tiên

Ai có được phần lớn các ý tưởng hay nhất thì sẽ thắng

Ai sử dụng một cách hiệu quả nhất các ý tưởng trong và ngoài công ty thì sẽ thắng

Phải giữ chặt các sở hữu trí tuệ (SHTT) của ta để các đối thủ không được hưởng lợi từ các sở hữu trí tuệ đó

Bán SHTT cho bên ngoài cũng có lợi; Và cũng nên mua SHTT ở bên ngoài nếu kinh doanh sẽ có lời


Bảng trên nói về một vài sự khác biệt chính và qua đó, tính hiệu quả của mô hình ĐMST so với mô hình KHCN.

KHCN lấy Tiền để làm ra Tri-thức; Còn ĐMST thì lấy Tri-thức để làm ra Tiền. KHCN chú trọng đến việc phát minh, sáng chế, xây dựng các lý thuyết, cấu trúc, tích lũy tri thức… mang tính hàn lâm; Còn ĐMST thiên về sử dụng tất cả những cái trên để tạo ra giá trị.

Vì vậy, muốn tăng cường ĐMST phải cải tiến không chỉ thuần túy trong lĩnh vực KHCN (hay lĩnh vực quản lý nhà nước về KHCN) mà ở rất nhiều mặt khác như kinh doanh, đầu tư, làm hay thuê khoán ngoài, thầu phụ, hội nhập chuỗi cung ứng của sản phẩm, chiến lược nâng bậc trong chuỗi giá trị, quản lý chiến lược CN, tận dụng các cơ hội cửa sổ về CN và khủng hoảng CN trên thế giới để nhập-xuất thị trường từng loại CN, kinh doanh với SHTT, các chu kỳ của CN và sản phẩm, xu hướng CN, xu hướng thị hiếu thị trường, sản xuất, tiếp thị, lưu thông, phân phối, tâm lý khách hàng, vv.

Thách thức của ĐMST

Phương pháp tiếp cận theo ĐMST đòi hỏi tính liên ngành cao. Nó không chỉ đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm, tư duy mà cả văn hóa, lối sống. Cách tiếp cận ĐMST sẽ phải liên quan đến nhiều ngành và chắc chắn sẽ bị hạn chế, làm “khó” bởi vô số các quy định, cơ chế làm việc, phối hợp hành động, hợp tác và cầu thị để cùng tiến bộ của các bộ ngành.

Sự thách thức của cách tiếp cận ĐMST đối với Việt Nam ở chỗ ta chưa qua thời kỳ phát triển tự thân và tự nhiên (không khiên cưỡng và thuần ý chí) của một xã hội công nghiệp. Điều này gây ra sự yếu kém về hạ tầng cơ sở “cứng” và “mềm”, tức là trong cơ chế, luật pháp, lối sống, tư duy, văn hóa của con người và xã hội. Vì vậy, ĐMST nhuần nhuyễn nhất là ở các nước phát triển. Họ làm dễ hơn ta vì nhiều cái ta thấy lạ, chưa hiểu vì sao họ làm vậy thì đối với họ lại là điều tất nhiên. Ta không chỉ thiếu các kiến thức hàn lâm (explicit knowledge) mà cái chính, sâu xa hơn và cũng khó “học” hơn là bản năng ĐMST, những cảm nhận tất nhiên, trong tiềm thức, mang tính bẩm sinh (common sense) và không phải nhờ cậy đến tư duy, lý trí.

Trong khi KHCN dễ theo trào lưu như hướng tới các đột phá CN (technology breakthroughs), công nghệ cao, công nghệ nguồn, vv. thì ĐMST quan tâm đến tính hiệu quả, tính khả thi cho một hoàn cảnh cụ thể.
-----------------

Việc Bộ KH&CN thành lập các cơ quan hỗ trợ về doanh nghiệp, kinh doanh, ươm tạo, sản nghiệp hóa các khâu trong chuỗi cung ứng KHCN, vv. là những nỗ lực đúng hướng để đưa KHCN đến ĐMST.

Để thực sự ĐMST, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải tiến hành nhiều hoạt động ta chưa quen, chưa nằm trong chức năng nhiệm vụ hay sự phân công quản lý của nhà nước. Những việc mà ngay cả muốn làm cũng khó vì chưa có đủ các cơ chế, quy định cụ thể của nhà nước cho các hoạt động liên ngành. Việc Bộ KH&CN thành lập các cơ quan hỗ trợ về doanh nghiệp, kinh doanh, ươm tạo, sản nghiệp hóa các khâu trong chuỗi cung ứng KHCN, vv. là những nỗ lực đúng hướng để đưa KHCN đến ĐMST.

Sự thách thức còn đặt ra với cơ chế làm việc của nhà nước giữa chính phủ trong vai trò điều hành, điều phối với các bộ ngành, các hoạt động liên ngành (các dự án, tổ công tác), vv. Ngay cả khi đưa các chuyên gia từ nhiều ngành ngồi lại làm việc với nhau trong một dự án hay một tổ công tác vẫn không có hiệu quả bằng có các con người đa năng mà bản thân họ là sự “tích hợp” các tư duy, kỹ năng, kiến thức, “bản năng” của nhiều ngành. Ta đang thiếu những chuyên gia như vậy, đặc biệt trong các giao diện giữa kinh tế-công nghệ-kinh doanh.

Cái khó khi áp dụng ĐMST là ta phải bắt đầu ngay từ chỗ ta yếu nhất. Đó là cách tiếp cận dựa trên Biến-động (Based-on-Change-Approach), quản lý tính phức hợp và đa biến (complexity), tính bất định (uncertainty), tính rủi ro (risk managemen), vv. KHCN và đặc biệt là ĐMST nếu muốn thực sự hiệu quả thì không thể như một Tổ-chức với các cấu trúc và quy chế cứng nhắc, mà là một “cuộc chơi” kiểu tập mờ luôn mở, sôi động và đầy tương tác (an open, dynamic, fully interactive and fuzzy game). Sự khó khăn của Việt Nam khi triển khai vườn ươm là ví dụ điển hình về sự lúng túng, chưa thích nghi được với loại cơ chế “mở”, linh hoạt. Đã được một số dự án nước ngoài đào tạo-tập huấn, thí điểm về vườn ươm từ 2001, nhưng đến nay vườn ươm với đúng nghĩa của nó vẫn chưa thực sự có ở Việt Nam dù cho đây là mô hình thích hợp nhất để phát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dựa trên CN. Lý do chính là các mô hình tổ chức linh hoạt, “mở”, với đa chức năng, liên quan đến quy chế của nhiều ngành, đòi hỏi kỹ năng của nhiều lĩnh vực rất khó được thành lập, khó được chấp nhận và khó có quy chế quản lý chung. Thiết nghĩ đây cũng có thể là trở ngại cho Viện Toán Cao cấp của GS. Ngô Bảo Châu sau này vì Viện với mô hình như một trung tâm tài năng (Centre of Excellence) rất thịnh hành ở Mỹ sẽ rất cần sự thông thoáng, cởi mở trong hoạt động.

KHCN và đặc biệt là ĐMST nếu muốn thực sự hiệu quả thì không thể như một Tổ-chức với các cấu trúc và quy chế cứng nhắc, mà là một “cuộc chơi” kiểu tập mờ luôn mở, sôi động và đầy tương tác (an open, dynamic, fully interactive and fuzzy game).

Với biến động của ĐMST và xã hội loài người, Quản lý ĐMST là quản lý “Cái-Chưa-Biết” (managing the Un-Known). Nó là các nỗ lực để “biết” “Cái-Chưa-Biết” (know the Un-Known). Khác với quản lý vật hữu hình, quản lý ĐMST mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện, thúc đẩy, xúc tác mà ít kiểm soát dễ làm kìm hãm, bóp nghẹt sáng tạo. Đây là thách thức lớn đối với con người ĐMST và cũng là sự khác biết giữa KHCN theo kiểu truyền thống và ĐMST. Trong KHCN truyền thống, người ta ngày càng biết nhiều hơn. Nhưng trong ĐMST, người ta ngày càng biết nhiều hơn về những cái người ta Chưa-Biết. KHCN tìm câu trả lời. Còn ĐMST lại không ngừng nghỉ đi tìm các vấn đề, luôn đặt câu hỏi.

Đối với Việt Nam hiện nay, ĐMST là cứu cánh để tồn tại. Việt Nam đang bị bắt phải tìm ra mô hình (và có lẽ cả triết lý) phát triển, khi con đường cũ đã không còn thích hợp mà hướng đi mới thì chưa tìm ra, giống như trong bài diễn thuyết “Đạo đức và Luân lý Đông Tây” của Cụ Phan Chu Trinh ngày 19-11-1925 ở Sài Gòn1. Để được như vậy, ĐMST không chỉ là một dự án, một chương trình mà cần trở thành một văn hóa, một đam mê (Inno-Mania). ĐMST thực chất và tự giác nhất sẽ không phải do truyền thừa (hay ai dạy) mà phải do tự “ngộ” ra. Vì vậy, ĐMST đầu tiên là đổi mới chính mình. Đổi mới khó nhất là thoát ra khỏi tư duy “Tổng-Bằng-Không” (Zero-Sum, tức “anh lợi thì tôi thiệt”) khi chia cái bánh cố định, để chuyển sang “hợp-tranh cùng có lợi” (Coo-Petition) để chia cái bánh ngày càng lớn. Để ĐMST, khó không phải là tìm ra ý tưởng mới mà là thoát khỏi các tư duy, lối mòn cũ (J. Keynes: “the difficulty lies, not in the new ideas, but in escaping from the old ones).

Nhìn vào chương trình hoạt động của các cơ quan hỗ trợ ĐMST, ví dụ như chương trình IPP của Phần Lan ở Việt Nam, sẽ thấy họ có cái nhìn rất tổng thể, chứ không chỉ chú trọng riêng về KHCN như quan niệm quản lý nhà nước của ngành KHCN. Ngoài ra, về mặt các dự án họ tài trợ cũng không chỉ dồn vào các hoạt động mà lâu nay vẫn được hưởng nhiều ngân sách, hỗ trợ của ngành KHCN Việt nam, ví dụ: họ chú trọng nhiều đến khâu kinh doanh, thương mại, đào tạo-huấn luyện, hỗ trợ doanh nghiệp nói chung (chứ không riêng về KHCN), các hoạt động mang tính liên ngành giữa KHCN với công-thương, doanh nghiệp, tài chính-tín dụng, ươm tạo, chiến lược CN trong chiến lược doanh nghiệp, nâng cao hiểu biết về sáng tạo, và CN, vv. Đây thực chất chính là những điểm yếu của nền KHCN kiểu cũ, chưa thực sự mang tính thị trường. Họ lựa chọn hỗ trợ ta các mặt trên vì căn cứ trên sự hiểu biết và cân nhắc rất chu đáo các hoàn cảnh, điều kiện của ta: cái gì là thế mạnh, thế yếu của ta, khả năng thực tế của ta, cái gì mang tính khả thi cao cho thành công, cái gì có thể hợp tác với ĐMST của khu vực và thế giới, vv.


-----
* Tặng Hannu, Janne và Văn phòng IPP Việt nam
1 Phan Chu Trinh, “Đạo đức và Luân lý Đông Tây”, ngày 19-11-1925, http://www.icevn.org/vi/DucDuc/Dao-Duc-Va-Luan-Ly-Dong-Tay

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.