Tìm về dấu tích lưu dân người Việt giữa đồng bằng Cửu Long
Trong cảo bản Thư của bọcó đoạn viết “Thả trôi theo nước tiến ra cửa vàm, năm nay đoàn ghe út Thượng không xuôi theo dòng sông Sau về bến Ca Lâu, mà căng buồn ngược dòng qua bờ bên kia, đến chòm Ca, Cả Dầu rồi vào cửa sông uất mà đến con lạch trước mặt cồn Cỏ. Từ đây các tay chèo bơi thuyền sâu vào đồng nước, nhắm hướng Con Sam mà đi về phía bàu tró. Cũng như mọi năm, mùa cắt năm nay bắt đầu trước Chạp, nhưng không về trong Tết kịp cúng cơm mới mà phải ở lại ra Giêng, do đi đường xa, và do mới tìm dược hà môn mới mút tầm con mắt”.
Tương truyền út Thượng tức Hoàng thượng thuộc tôn tộc nhà Mạc, bôn đào đến vùng đèo Ngang đổi làm họ Hoàng. Sau khi Nguyễn Hoàng trấn nhậm Thuận Hoá năm 1558 thì di cư về phía nam, đến đồng bằng Cửu Long đổi làm họ Huỳnh nhưng không biết từ lúc nào, có thể vào lúc chúa Nguyễn cho đăng bộ khai ấp lập làng. Khai thác lúa trời là truyền thống của nền văn minh Bàu Tró ở miền Trung nước ta. Ở đây bàu tró hay hà môn là các cánh đồng lúa dại Oryza sativa hột to vỏ đỏ, đến mưa thì nẩy mầm, khi nước nổi lên thì lớn theo con nước mà lấn lướt các loài cỏ dại, đến cuối mùa nước thì đơm bông, trổ đòng, kết hạt.
Con Sam tức Núi Sam ngày nay. Người xưa quen gọi sông súi bằng con, gọi nơi ở bằng kẻ, cả, cái hay rặt ri Nam bộ gọi bằng ca, cà, ngã, hay đặt tên chữ bắt đầu bằng cổ. Uất hay úc là con xép chảy vòng phía sau một cồn lớn. Cồn Cỏ ngày nay là cù lao Khánh Hoà, tên cũ là Tầm Bon do người Việt định cư ở đó, cũng gọi là Ca Tầm Bon chứng tỏ nơi đây có sự cộng cư sớm giữa lưu dân người Việt với các nhóm người bản xứ. sau này sử triều Nguyễn gọi chung là các thế đất cồn bãi ven sông Cửu Long là Tầm Phong Long.
Lần theo dấu vết xưa cũ, người ta thấy những lưu dân người Miên đầu tiên đổ xuống An Giang, Kiên Giang và Cà Mau, Bạc Liêu theo đường núi Thất Sơn, tái lập xứ Tà Lọt huyền thoại của thời văn hoá Óc Eo. Những di dân người Miên lánh nạn đến sau, thiết lập những nơi cư trú mới trên các giồng cao ở tận miền biển Sóc Trăng, Trà Vang. Trong khi đó các di dân người Hoa trốn chạy Mãn Thanh thành lập các cộng đồng Hà Tiên, Đông Phố, Mỹ Tho… Dòng lưu dân người Việt được biết đến đầu tiên ở Mô Xoài (Bà Rịa), Bình Giang (Bình Dương) và rồi đến sông Vàm Nao tạo nên Vạn Chiêng, phát triển nên vùng đất Hai Huyện, thiết lập thêm nhiều trung tâm cư trú mới trên vùng sông nước Cửu Long gọi lá tứ chiếng, tổ chức công việc làm ăn theo nhóm bạn nghề, hình thành tính cách Nam bộ, từ lời ăn tiếng nói đến cách hành xử theo nghĩa khí, nghĩa là phải giúp nhau mỗi khi hoạn nạn. Thơ ca cổ ở đây xếp kẻ vô nghì với người bất nghĩa…
Chuyện về cánh đồng Lò Mo sau này có đoạn viết: “… Vừa tờ mờ sáng, đoàn ghe đã vào hết trong rạch Cồn Thảo, gồm 2 chiếc ghe bầu cở lớn đi kèm 2 chiếc ghe nóc và 14 thuyền chèo lớn nhỏ. Họ dừng lại ở nơi lòng búng không xa cửa vàm, thả neo ghe bầu ngay giữa dòng nước để tránh bầy chuột bơi ra đục đáy. Các bạn cắt mau mắn lên bờ, dựng trại, móc đất, đắp lò, rèn lại mấy lưới hái, lưỡi vằng lâu ngày bỏ không. Chợt xuất hiện một chiếc độc mộc gỗ gáo ở cuối con búng. Người ngồi trên đó quan sát lúc lâu rồi vạch qua đám cỏ kêu lưói mấy tiếng lo! Lo!, ra dấu bơi đến gần rồi lặp lại mấy tiếng lò mo! Lò mo!... trước khi quay ngoắt con thuyền về phía hói nước.
![]() |
| Đồng Lò Mo nằm giữa Núi Sam và Thất Sơn - bên trái là vùng Ba Trại |
Nền Ba Trại nằm trên bờ của con sông cái bồi cạn chạy song song gần sát rặng núi Thất Sơn, lúc bấy giờ nói với hàng trăm con hói nước đen chảy dưới các rừng tràm thâm u gọi là Ô Long Vĩ. Trong cơn đại hồng thuỷ bắt đầu khoảng năm 350, lúa trời ở đồng Mớp Văn nhiễm mặn mất dần, người Óc Eo di chuyển theo dòng sông cái lên các vùng cao trên bờ. Nhưng sang thế kỷ thứ V khi kinh đô Ba Thê dời về Angkor Borei thì người Óc Eo di chuyển theo các con rạch đi về phía đông, qua vùng Đá Nổi Phúa Hoà đến Ca Lâu, Bình Thuỷ, hay qua Ba Trại về Núi Sam đến vùng Châu Đốc. Đến đỉnh cao hải xâm trong khoảng 650 thì họ đã định cư bên sông Hậu, trên các gò cao nơi đầu ngọn rạch nối đồng lúa trời với nguồn nước ngọt. Nhưng khi nạn hồng thuỷ rút đi sau thế kỷ XIII thì họ vẫn ở lại đó, lưu giữ những ký ức về một đất nước oai hùng, về một niềm tin vào bà tức là người Mẹ sinh ra thung lũng núi đồi. Họ đã quên đi các vị Chúa Xứ cho tới khi những người Việt tìm thấy vùi lấp dưới các lớp đất ở các chân núi. Và họ dựng lại để thờ ngay nơi tìm thấy, phục hồi một tín ngưỡng dân gian xưa cũ kết hợp tôn thờ Vía Bà với vị chúa Xứ Sở, gọi là Bà Chúa Xứ như ở Núi Sam hiện nay.
Trên thực tế lò mo - có thể là phát ân của hai chữ cổ “ló môn” nghĩa là lúc đó, chỉ đồng lúa trời – không chỉ là huyền thoại một cuộc tình là sự khai sinh vùng đất Lò Mo nơi có sự công cư dân đầu tiên của người Việt với người bản xứ, sử cũ ghi chép là vùng Ca Âm, và người thời nay thường gọi những nền cũ đó là các chòm Ca. Tôi tìm đến Ca Lâu vào giữa mùa nước 1976 sau khi bơi xuồng vào rạch Chắc Cà Đao, khoảng 3 cây số đến ngã ba rạch Chanh thì theo dòng bên phải chèo tiếp đến non cây số. Xóm Ca Lâu hiện ra ở đó, giữa những lùn tre tứ bề ngập nước, đúng vào vị trí ghi trên bản đồ Soreah của đoàn nghiên cứu Hà Lan vẽ năm 1974. Chuyến đi thật không uổng khi có thể tận mắt nhìn thấy dấu ấn rất sớm của người Việt giữa đồng Cửu Long. Nhưng ngôi nhà cổ khiêm tốn và cách bày biện, những bụi tre, những hàng cau, một thứ tiếng Việt nửa cũ nửa mới và cách phát âm là lạ làm người ta lầm tưởng chòm Ca này như một sóc phun người Miên, và những câu chuyện kể đoạn tỏ đoạn mở nói lên dòng thời gian đang nhanh chóng bôi xoá.
Khi trở lại đầu vàm đi tìm dấu vết Ca Đao thì không còn nữa; nơi đây đã trở thành ngôi chợ Chắc Cà Đao (Hoà Bình Thạnh), tuy những lùm tre đặc trưng vẫn còn nhìn thấy rải rác xa xa. Nhưng khi bơi xuồng theo bờ Hậu Giang đến sông Cù Úc đối diện Vàm Nao, nơi che khuất khỏi cửa Vàm Sau bởi con cồn Bình Thuỷ, thì khung cảnh quen thuộc của các chòm Ca lại xuất hiện. Nằm ở trung tâm xứ chòm Ca này là họ Năng Gù được lập ra bởi các di dân lánh nạn bắt đạo Gia Tô từ cuối thế kỷ 18 tương tự nơi họ Bò Ót ở về phía nam. Khoảng năm 1832, người Năng Gù bắt đầu gieo sạ lúa nổi thay cho việc thu hoạch lúa trời vốn mỗi lúc một hiếm trong khi dân cư mỗi ngày một đông. Ngày nay ngư dân Bình Thuỷ vẫn là những người đánh bắt cá sông kinh nghiệm nhất, vẫn tổ chức thành bạn mà nay gọi là đội, và sản phẩm là các loài cá lớn của dòng Cửu Long, từ cá hô Catlocarpio siamenis đến cá heo sông Orcaella brevirostris và cá tra khổng lồ Pangasianodon gigas.









