Tiềm năng phòng chữa bệnh của hạt Thảo quyết minh
Theo Đông y, hạt Thảo quyết minh vị mặn, tính bình. Vào 2 kinh can đởm có tác dụng thanh can, giáng hoả, sáng mắt, tán phong nhiệt ngoại tà được dùng để chữa bệnh về mắt, mắt đau sưng đỏ, chói, chảy nước mắt, quáng gà, mắt có màng, làm sáng mắt (quyết minh); làm an thần chữa mất ngủ, nhức đầu do phong nhiệt thiên về thái dương từ ngoài xâm nhập và trừ nhiệt hơn trừ phòng, đại tiện táo bón. Không dùng cho những người đang bị tiêu chảy, hoặc người dễ bị tiêu chảy, không có huyết nhiệt âm hư và có ngoại tà phong hàn.
Trong thành phần của một số chế phẩm có nguồn gốc dược liệu giúp an thần, sáng mặt thường có hạt Thảo quyết minh.
Dùng ngoài thì hạt Thảo quyết minh đem ngâm rượu, ngâm giấm chữa hắc lào, chàm mặt trẻ em.
Đã có công trình nghiên cứu sự biến đổi hình thái cảm quan thành phần hoá học và tác dụng dược lý của hạt Thảo quyết minh qua các dạng bào chế: để sống, sao vàng, sao tồn tính (ngoài nâu đen trong nâu nhạt) và sao cháy cả trong ngoài hạt.
Về hoá học:không tìm thấy alcaloid. Có tanin và antraquinon ở thể tự do và kết hợp. Trên sắc ký lớp mỏng chưa thấy có sự biến đổi về thành phần hoá học các antraquinon của Thảo quyết minh ở 3 dạng chế sống, vàng, tồn tính nhưng hàm lượng thì giảm dần từ dạng sống đến dạng tồn tính. Nhiệt độ càng cao, hoạt chất bị phân huỷ càng nhiều, thăng hoa nhiều hơn và hàm lượng giảm nhiều hơn. Do đó, phải theo dõi nhiệt độ của dược liệu trong quá trình sao. Điều này phù hợp với việc theo dõi đậm độ của khói bốc lên để trở thành “chỉ thị màu khói” khi thực hiện tiến trình bào chế hạt Thảo quyết minh.
Về tác dụng dược lý:các dạng bào chế của Thảo quyết minh và nhất là dạng sao tồn tính đã được khảo sát: không thấy độc tính cấp trên chuột nhắt trắng, Thảo quyết minh gây giãn mạch ếch cô lập, làm hạ huyết áp thỏ và chậm nhịp tim trên điện tim thỏ và điện não thỏ thì diễn biến phức tạp hơn.
Nếu Thảo quyết minh còn sống hay còn non (vàng) thì không có tác dụng an thần mà còn có chiều hướng gây hưng phấn. Nếu sao cháy thành than thì tác dụng an thần gây ngủ không còn. Các nghiên cứu cho phép kết luận sơ bộ Thảo quyết minh tồn tính giảm hoạt hoá nhẹ đối với tế bào thần kinh của vỏ não và thể lưới.
![]() |
| Hạt Thảo quyết minh |
Có rất nhiều cây mang tên Muồng và Thảo quyết minh, nhất là vùng biên giới phía Bắc, khiến tình trạng nhầm lẫn khó tránh khỏi. Cần chú ý hạt Thảo quyết minh dài nâu nhạt, bóng, có hai đầu vát chéo. Hạt có thể nhầm các loại đậu, nên phân biệt với cây Keo dậu còn có tên Muồng phân xanh, được trồng nhiều làm hàng rào dùng chữa giun. Tên khoa học cây này là Leucaena glaucaBenth. Họ Trinh nữ. Hạt dẹt chỉ hơi phồng, phẳng, nhẫn, hình bầu dục hơi lẹm phía dưới, màu nâu nhạt.
Còn có cây khác là Thanh tương tử (hạt cây Mào gà trắng) Celosia argenteaL. Họ Rau dền (Amaranthaceae) vị đắng hàn vào Can cũng có công dụng thanh can hoả, sáng mắt. Tuy nhiên, dùng Thanh tương tử phải thận trọng để tránh tác dụng phụ không có lợi đối với mắt.









