Thủy lợi miền Bắc xuống cấp: Tìm đâu ra tiền sửa chữa...(?)
Sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá
Tiếp xúc với cán bộ các công ty thuỷ lợi chúng tôi đều nhậnđược giải thích giống nhau về sự xuống cấp của các công trình thuỷ lợi: không có tiền sửa chữa lớn các hạng mục công trình đã xuống cấp.
Không đủ tiền thành ra các công ty thủy lợi chỉ còn biết than thở “Hằng năm các trạm chỉ có kinh phí sửa chữa đến tiền triệu, chứ hàng chục triệu thì không có.”- ông Vũ Văn Phán, Trạm trưởng trạm quản lý cụm công trình thuỷ lợi Xuân Quan bức xúc. Kinh phí thiếu thốn kéo theo việc duy tu, sửa chữa tiến hành không thường xuyên, triệt để. Vì thế, những hỏng hóc nhỏ khôngđược sửa chữa triệt để thành hỏng hóc lớn và lâu dần thành “ trọng bệnh”
“Các tổ máy đều xuống cấp nhưng chúng tôi không lấy đâu ra tiền để sửa chữa lớn”- ông Dương Ngọc Lý, Phó giám đốc Trạm bơm Trịnh Xá (Công ty Quản lý công trình thuỷ lợi Bắc Đuống) than thở. Không chỉ có vậy, trạm bơm Trịnh Xá mỗi năm còn nợ nhà nước hàng tỷ đồng tiền điện. Thiết bị thay thế không đồng bộ nên chỉ vận hànhđược vài năm lại hỏng.
Theo Cục Thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), hằng năm, cả nước dành khoảng 600 tỷ đồng trong khoản thu thủy lợi phí để đầu tưcho công tác quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình. Phần lớn trong số đó đãđược dùng để xây mới một số công trình.
Nước là hàng hoá
Trong quá trình về địa phương thực hiện loạt bài về sự xuống cấp của hệ thống thuỷ lợi miền Bắc, chúng tôi đều gặp cái lắc đầu ngao ngán của cán bộ các công ty thuỷ lợi khi nói về việc thu tiền thuỷ lợi phí. Ông Cao Xuân Lộc, Giám đốc Công ty Quản lý công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải than thở: “Cố gắng lắm chúng tôi cũng chỉ thuđược khoảng 62%, còn gần 30% bị nợ đọng. Tính đến thời điểm này, các tỉnh còn nợ công ty trên 18 tỷ tiền thuỷ lợi phí”. Theo ông Lộc, từ đầu năm đến giờ Công ty Bắc Hưng Hải chưa thuđược đồng thuỷ lợi phí nào. Nguyên nhân là do ở địa phương chưa chấp hành đúng quy định dẫn đến các xí nghiệp địa phương không thu đủđược và không nộp đủ cho công ty.
Kinh phí thuđược chủ yếu từ hai nguồn: thu thủy lợi phí, vốn cấp bù của nhà nước (do thủy lợi là lĩnh vực hoạt động công ích nênđược nhà nước trợ cấp một phần). “Nhưng suốt nhiều năm nay, hai nguồn thu này đều quá ít ỏi”- ông Nguyễn Văn Toán, giám đốc công ty quản lý công trình thuỷ lợi Bắc Nam Hà bộc bạch. Thông thường kinh phí cấp bù trung bình các năm chỉ bằng 50% so với nhu cầu thực tế.
Do nguồn thu không đáp ứng yêu cầu nên các doanh nghiệp chỉ tập trung chi cho một số hoạt động chính. “Giả sử thu thuỷ lợi phí sòng phẳng từ các địa phương cũng chỉ đủ trả tiền lương và chi phí sửa chữa máy móc ở cấp độ nhỏ lẻ”- một cán bộ công ty quản lý công trình thuỷ lợi Bắc Đuống thú thật.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới đây đã trình Chính phủ đề án đầu tưsửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Đồng bằng sông Hồng với tổng nguồn vốn là 5.900 tỷ đồng để nạo vét hệ thống sông trục, thay máy mới cho các trạm bơm, kiên cố hóa hệ thống kênh tưới… Nhưng theo chúng tôi, rõ ràng đây chỉ là giải pháp tình thế phần nào giúp các doanh nghiệp nâng cấp, sửa chữa các công trình của đang xuống cấp. Nhưng về lâu dài cần có sự thay đổi trong hoạt động khai thác của các công ty thuỷ lợi.
Ông Nguyễn Công Tiến, Chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp Hữu Hòa (Thanh Trì, Hà Nội):
Không thể thu đủ thuỷ lợi phí
Nguồn thu thủy lợi phí của xã hàng năm vẫn có chỉ tiêu là 23kg thóc/sào/năm, nhưng trên thực tế là không thể thuđược. Bà con xã viên cho rằng, nguồn nước của sông Nhuệ cung cấp cho sản xuất của bà con bị ô nhiễm, vì vậy phản đối và không đóng. Do phải bơm tưới và tiêu nội đồng nên dân chỉ đóng thủy lợi phí nội đồng ở mức 7,5kg thóc/sào/vụ. Còn thu phí nước tạo nguồn là hoàn toàn khôngđược.
Đã đến lúc phải tìm một cơchế quản lý mới để vừa chốngđược sự xuống cấp của các công trình thuỷ lợi vừa thuđược tiền thuỷ lợi phí. Theo các nhà khoa học, giải pháp là phải xoá bỏ cơchế xin cho trong ngành thuỷ lợi và phải coi nước cho sản xuất và tưới tiêu cũng là một sản phẩm hàng hoá. Khoa học và Đời sống sẽ trích đăng ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý xung quanh vấn đề này trong số báo tới.
Nguồn: KH&ĐS Số 57 Thứ Hai 17/7/2006







