Thủy lợi miền Bắc: Rệu rã toàn hệ thống
Già cỗi thuỷ lợi sông Nhuệ
![]() |
| Các dầm chính đỡ cầu bị gỉ |
Trong số 127 cống già nua dọc sông Nhuệ, 20 cống mới được đại tu, còn lại 107 cống có thân cống ngắn, mái dựng đứng quá nguy hiểm. Cống đầu nguồn Liên Mạc đã được gia cố, sửa chữa khôi phục và điện khí hoá nhưng tường ngực khi có lũ cao vẫn có chỗ bị thấm. Cánh cống bị rỗ, rỉ làm giảm khả năng chịu lực. Để “cấp cứu” cho cống cũ, một cống mới điều tiết hạ lưu Liên Mạc đã được đưa vào sử dụng từ tháng 5/2001. Mùa lũ 2004 khi mực nước thượng lưu lên tới +6.90 đã có hiện tượng thấm đẫm ở tường ngực. Hộp điều tốc máy móc ở cửa thông thuyền bị hỏng...
Càng xuôi về phía Nam, sự xuống cấp càng thể hiện rõ. Trạm bơm Vân Đình, mới đưa vào khai thác từ năm 1993, đã bị lún, nghiêng từ phía bể xả về phía bể hút. Phòng điều hành trung tâm bị lún không đều gây nứt tường và làm nứt hai cột bê tông đỡ trần nhà. Các tấm đan bê tông ở hành lang bể hút bị gẫy không đảm bảo an toàn trong quản lý vận hành...
![]() |
| Cống Đông Quan và cống Liêm Mạc (khoanh vùng tròn) trong hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ |
14 lần phục chế vẫn hỏng
Trong số tám trạm bơm lớn của Công ty khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hàø, trừ hai trạm mới xây và trạm bơm NhưTrác (Nhân Thịnh, Lý Nhân, Hà Nam) vừa được nâng cấp với sáu máy bơm mới của Nhật Bản. Năm trạm còn lại đều được lắp đặt từ những năm 1960-1970. Các máy bơm do Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu chế tạo nay đã hết hạn sử dụng...
23 tổ máy bơm lớn trong năm trạm này đang trong tình trạng chạy cầm chừng và chờ phục chế. Phần lớn tủ điều khiển, động cơcủa các tổ máy này đã bị lão hoá. Trục bơm nước cũ nát mà không có thiết bị thay thế. Anh em công nhân đã phải hàn, cắt để chắp vá, phục chế máy móc hết sức thủ công. “Có những tổ máy chúng tôi đã phục chế đến 14 lần mà vẫn hỏng vì thiết bị thay thế không đồng bộ”- ông Nguyễn Văn Toán, giám đốc công ty quản lý công trình thuỷ lợi Bắc Nam Hà than thở.
Cũng theo ông Toán, máy móc chậm được đầu tưnâng cấp đã không đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho toàn hệ thống. Trong mùa mưa bão, 100% máy bơm có thể chạy được nhưng chẳng có gì làm đảm bảo chúng không bị “uỵch” ra bất cứ lúc nào.
Máy móc cũ kỹ cũng đã làm cho năng lực bơm tưới và tiêu của trạm bơm Trịnh Xá (công ty khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống) trong hệ thống chỉ đạt 75% so với thiết kế ban đầu. Hiện trạng công trình đã có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng: Nền nhà máy, nhà trung gian, nhà điều khiển, trạm biến áp ở cao trình thấp, khi xảy ra lụt vỡđênước có thể gây ngập làm hỏng máy móc, thiết bị (nền nhà máy có cao trình +4.05m trong khi cao trìnhđêhiện tại là +8.0m). Nhà điều khiển trung tâm có nhiều vết nứt vòng quanh và có xu thế ngày càng tăng.
Bồi lắng trầm trọng...
Một vấn nạn nữa đang tái diễn trong các sông thuộc hệ thống thuỷ lợi Bắc Bộ là tình trạng bồi lắng. Ngoài sông Hồng và sông Thái Bình, các sông còn lại trong hệ thống thủy lợi Bắc Bộ còn bị bồi lắng nghiêm trọng.
Đầu năm nay, cống Liên Mạc xuất hiện thường xuyên những đoạn bị bồi cao hơn đáy cống từ 1,5 đến 2m. “Năm nào chúng tôi cũng phải bỏ ra cả trăm triệu đồng nạo vét kênh dẫn dòng từ sông Hồng vào cống Liên Mạc”- ông Nguyễn Văn Hiện, trạm trưởng trạm quản lý cống Liên Mạc tiếc rẻ.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Nam Hà quản lý tám trục sông tiêu dài 125 km. Do bồi lắng, việc nạo vét chỉ được thực hiện nhỏ lẻ ở các đoạn sông gần cửa cống. Ông Nguyễn Văn Toán than thở: “Có nhiều kênh tưới tiêu đã 40 năm, kể từ ngày xây dựng chưa được nạo vét do không có kinh phí”.
Ngoài bồi lắng, các hệ thống thủy lợi còn phải chịu đựng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, làng nghề... Cá biệt nhưhệ thống sông Nhuệ mỗi ngày phải chịu 2,5 triệu m3 nước thải của Hà Nội, nước thải từ hàng trăm làng nghề của Hà Tây, Hà Nam. Hệ thống sông này trở thành hệ thống sông ô nhiễm nhất miền Bắc. “Khi nước đen đặc, chúng tôi phải lấy nước từ sông Hồng vào để pha loãng phục vụ tưới tiêu. Công ty cũng đã đề nghị với thành phố Hà Nội khi nước sông ô nhiễm quá sẽ phải dùng biện pháp bơm từ sông Tô Lịch ra sông Hồng để giảm bớt ô nhiễm sông Nhuệ” – Bà Hạnh nói.
Trên bờđê, máiđênhiều đoạn sông còn bị lấn chiếm làm nhà ở, công trình phụ, quầy bán hàng, dịch vụ... Tình trạng đổ phế thải bừa bãi xuống lòng sông làm dòng chảy bị thu hẹp, nhiều đoạn trong hệ thống sông Nhuệ bị thu hẹp từ 15-20m.
Đấy là chưa nói đến chuyện mặt sông xuất hiện nhiều bèo, bè rau muống do dân cư“tăng gia sản xuất” đã làm cản trở lưu lượng dòng chảy. Hiện tại, mặtđêsông Nhuệ có nhiều đoạn sụt sạt chưa được khắc phục. Thânđêvà nềnđêlà đất pha cát, dễ sụt lún và dễ xuất hiện mạchđùn, mạch sủi nhưng chưa được xử lý nhưđêHoàng Tây, Kim Bình, Nhật Tựu (huyện Kim Bảng), Vực Vòng (Duy Tiên), Châu Can, Bạch Hạ, Chuyên Mỹ (Phú Xuyên)...
Thực trạng xuống cấp trên không phải là không có cách khắc phục. Tuy nhiên, việc cải tạo lại hệ thống thủy lợi toàn miền Bắc đòi hỏi nguồn kinh phí khổng lồ. Đây là một bài toán khó đối với các đơn vị quản lý. Vấn đề này sẽ được báo KH&ĐS đề cập trong số báo sau.
Đồng bằng sông Hồng có khoảng 55 hệ thống thủy lợi, thủy nông loại vừa. Trong đó, có một số hệ thống tiêu biểu nhưBắc Hưng Hải, Sông Nhuệ, Bắc Nam Hà, Nam Nam Hà, Bắc Đuống, Nam Đuống, An Kim Hải.... Các hệ thống này gồm 500 cống, 1.700 trạm bơm điện chính, 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính cấp 1, 2, 3; 35 hồ có sức chứa từ 0,5 - 230 triệu m3 và nhiều hồ chứa nhỏ. Nhờ đó, hệ thống đảm bảo tưới cho 765.000ha và tiêu cho 510.000ha thuộc 12 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và phần diện tích nằm giữa sông Cầu và sông Thương thuộc tỉnh Bắc Giang.
Nguồn: KH&ĐS Số 56 Thứ Sáu 14/72006










