Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 11/10/2010 18:54 (GMT+7)

Thực trạng và giải pháp về đô thị hoá vùng ven đô thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới

1. Đặt vấn đề

Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị, đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng.

Ở Việt Nam , trước 1975, Đất nước liên tục bị chiến tranh nên ở Miền Bắc, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức chậm chạp. Ở miền Nam dưới thời Mỹ - Nguỵ, đô thị hóa diễn ra ồ ạt ở Sài Gòn (nay là Tp. Hồ Chí Minh) nhưng mang tính cưỡng bức nên đã để lại hậu quả nặng nề sau chiến tranh.

Sau năm 1975, cả nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm của các tỉnh miền Nam là khắc phục mọi khó khăn, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định xã hội và đời sống nhân dân. Do vậy, những năm đầu sau giải phóng, đô thị hoá ở Sài Gòn về cơ bản không có gì đáng kể.

Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, Sài Gòn với ưu thế là một thành phố trẻ có tiềm năng về khoa học kỹ thuật, về quan hệ buôn bán với nước ngoài và tiềm ẩn nền kinh tế đa thành phần đã nhanh chóng trở thành trung tâm công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch và quan hệ quốc tế. Đây cũng là thành phố đi đầu cả nước về tốc độ đô thị hoá, diễn ra trong không gian rộng lớn cả nội ô và vùng ven đô.

Ven đô Tp. Hồ Chí Minh là một vùng rộng lớn bao gồm các quận ven nội và các huyện cửa ngõ của thành phố như Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Bình Chánh. Khu vực ven đô Tp. Hồ Chí Minh chiếm 79% diện tích và 17% dân số thành phố (tính tới thời điểm 1996). Trong chiến tranh cũng như lúc hoà bình, vùng ven đô có một vị trí hết sức quan trọng đối với sự trường tồn của thành phố. Khi chiến tranh xảy ra, vùng ven là pháo đài xanh để bảo vệ cho sự bình yên của thành phố. Hoà bình lập lại, vùng ven đô là nơi cung cấp lao động, lương thực thực phẩm để xây dựng phát triển thành phố. Đồng thời, đây còn là "vành đai xanh" để chắn lọc gió bụi cho nội ô. Trong quá trình đô thị hóa Tp. Hồ Chí Minh, vùng ven đô là nơi trực tiếp chịu sự tác động của làn sóng di dân nông thôn - thành thị. Nơi đây cũng đã xảy ra quá trình đô thị hoá mạnh mẽ. Trong phạm vi bài viết này xin được đề cập đến một số nét nổi bật trong quá trình đô thị hóa vùng ven đô Tp. Hồ Chí Minh (chủ yếu là các quận vùng ven).

2. Quá trình đô thị hoá của các quận ven đô TP. Hồ Chí Minh

Quá trình tập trung dân cư đô thị

Trong quá trình đô thị hoá, vấn đề di dân nông thôn - thành thị xảy ra với hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực Thái Lan, Indonesia, Philippine. Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới của đất nước đã làm cho quan hệ sản xuất được cải thiện, năng lực sản xuất được giải phóng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được đẩy mạnh đã thu hút lao động từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm. Vì vậy, sau đổi mới, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh đều có sự gia tăng dân số đột ngột, đặc biệt là Tp. Hồ Chí Minh. Theo điều tra của các nhà xã hội học, mỗi ngày có hàng trăm người đủ các thành phần trí thức đến công nhân, nông dân đủ mọi lứa tuổi từ cụ già đến em nhỏ khắp các địa phương trong nước đổ về thành phố với ước muốn khác nhau: Tìm kiếm công ăn việc làm, thăng quan tiến chức, tìm đất dụng võ. Do đó đã làm cho sự gia tăng dân số cơ học của Tp. Hồ Chí Minh vượt trội so với các thành phố khác. Năm 1980 Tp. Hồ Chí Minh có khoảng 3.202.000 người. Năm 1990 là 4.005.000 người và đến năm 2000 là hơn 6.000.000 người. Nếu xét về dân nhập cư: năm 1996 có khoảng 600.000 người, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên của thành phố chỉ khoảng 1,5% mỗi năm thì tăng dân số cơ học lên đến 2%. Sự gia tăng dân số nhanh đã làm cho mật độ dân số quá đông. Bình quân là 23.800 người/km 2. Trong thực tế lên tới 35.900 người/km 2. Một số quận trung tâm mật độ còn cao hơn; ở quận 5 là 52.900 người/km 2, các quận ven nội đô mật độ dân thấp hơn; Gò Vấp mật độ dân số cao nhất là 29.945 người/km 2(phường 1). Dần dần, các quận nội đô trở nên quá tải, di dân nông thôn - thành thị bành trướng về các quận ven. Trong 600.000 người nhập cư năm 1996 có 65.609 người tạm trú ở Thủ Đức, tập trung tại một số phường như Phước Bình 2.426 người, Hiệp Bình Chánh 5.816 người. Phường 26 quận Bình Thạnh có 4.283 người; phường 12 (Bình Thạnh) có 7.576 người.

Ngoài bộ phận dân nhập cư từ nông thôn đến, ven đô còn là nơi giãn dân của nội thành. Với chính sách chỉnh trang đô thị, giải phóng nhà ổ chuột, nhà trên kênh rạch của thành phố, ven đô đã tiếp nhận thêm một bộ phận dân cư từ các quận nội thành chuyển ra. Sau đó là những người dân giàu có từ các quận trung tâm cũng tìm đến ven đô để tậu đất, tậu nhà, xây dựng biệt thự làm nơi thư giãn cuối tuần hoặc vào các ngày tết, lễ. Hơn nữa, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở công nghiệp, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài ở ven càng nhiều. Chủ yếu là dân di cư từ nông thôn ra thành thị làm các nghề thợ hồ, may mặc, dệt da, chế biến lương thực, thực phẩm. Tất cả những yếu tố trên đã góp phần làm cho dân số ven đô tăng lên nhanh chóng.

Tình hình cơ sở hạ tầng đô thị

Như đã trình bày, đặc điểm chung của các quận ven đô sau giải phóng là cơ sở hạ tầng nghèo nàn, yếu kém. Trong quá trình đô thị hóa, việc gia tăng dân số đã kéo theo tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, cơ sở hạ tầng đô thị xuống cấp nhanh chóng.

Những năm sau đổi mới, khi kinh tế phát triển, hầu hết các quận ven đô đều chăm lo đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông: đường Phan Văn Trị, Đinh Bộ Lĩnh, Điện Biên Phủ (quận Bình Thạnh), đường Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Oanh (Gò Vấp), đường liên phường 10 - 19 - 18 nút giao thông Bà Quẹo (Tân Bình). Hệ thống cấp thoát nước được chú ý nạo vét, xây dựng kè kênh Nhiêu Lộc, kênh Tham Lương, hệ thống cống xả được khôi phục. Ngoài ra, các quận đều chú ý lắp đặt thêm đường ống nước sạch, cải tạo lưới điện trung thế, hạ thế cho các khu dân cư. Đặc biệt là các quận trung tâm xây dựng mở mang trường học, bệnh viện, khu công thự, nhà ở, khu vui chơi nhằm cải thiện đời sống nhân dân. Một số quận đã thực hiện chương trình nhà ở cho người nghèo. Riêng quận Bình Thạnh từ năm 1994 - 1999 đã xây dựng hoàn chỉnh khoảng 1000 căn hộ tại các khu chung cư để phục vụ cho việc giải toả kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và nhà ở cho người có thu nhập thấp. Tính đến năm 1995, Tp. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về tốc độ xây dựng nhà ở với 2.618.640 m 2. Dự tính đến năm 2010 thành phố sẽ đầu tư xây dựng 9 khu dân cư với diện tích 8.450 ha, tổng diện tích xây dựng nhà: 67 triệu m 2. Tổng vốn đầu tư ước tính 161 nghìn tỷ đồng.

Kết quả sau 10 năm đô thị hoá, nhiều khu đô thị mới xuất hiện: Khu thương mại chợ Bà Chiểu, khu dân cư công nghiệp Bình Hoà (Bình Thạnh), khu Ngã 6, khu Căn cứ 26, khu Chợ Tân Sơn Nhất (Gò Vấp), khu công nghiệp phường 20, khu dân cư Tân Trụ, khu Cư xá Nhiêu Lộc, khu công nghiệp tập trung phường 15 - 16 (Tân Bình). Các công trình văn hoá du lịch được xây dựng với quy mô lớn, thu hút nhiều khách tham quan như khu Văn Thánh, Bình Thới, Thanh Đa, Suối Tiên. Các khu chung cư mới như Xóm Cải, Xóm Đầm, Thị Nghè xuất hiện thay thế dần các khu nhà ở tồi tàn lụp xụp.

Với những chuyển biến về kinh tế xã hội như đã nêu, quận ven đô đã dần chuyển hoá thành nội ô, các huyện ngoại thành chuyển biến thành vùng ven. Đến năm 1997, một số quận mới được hình thành, bao gồm Quận 12 được tách ra từ huyện Hóc Môn, quận 7 được tách ra từ huyện Nhà Bè, quận 2, quận 9, quận Thủ Đức được tách ra từ huyện Thủ Đức.

Sự chuyển biến về tâm lý - lối sống của cư dân đô thị

Trước những thay đổi về kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của người dân đô thị được nâng cao. Mở cửa hội nhập và giao lưu làm cho người dân ven đô tiếp cận nhiều điều mới lạ. Họ học tập được kinh nghiệm làm ăn sinh sống với khoa học kỹ thuật, với cung cách làm ăn mới, nhận thức họ mở mang, giao tiếp ứng xử tế nhị, lịch lãm hơn, tự tin hơn. Những phong tục tập quán lạc hậu, tuỳ tiện được rũ bỏ dần. Ngày nay, thanh niên vùng ven đã quen với lối sống mới, với các tác phong công nghiệp. Họ lao vào học tập văn hoá, rèn luyện tay nghề, làm việc có năng suất, chất lượng hơn, chính vì thế thu nhập cũng cao hơn, mức độ chi tiêu cũng tăng lên. Theo số liệu thống kê của Phòng Thống kê quận Gò Vấp cho thấy chỉ tiêu bình quân đầu người tăng dần.

Năm

1985

1995

1999

2000

Số tiền đồng

201.346đ

386.084đ

492.297 đ

560.000 đ

Ở Tân Bình: Năm 1995 là 290.000đ/người/tháng. Năm 2005 là 660.000đ/người/tháng.

Việc chi tiêu cũng hợp lý hơn. Tỷ lệ chi cho nhà, thiết bị, đồ dùng tăng, chi phí cho ăn uống giảm.

Ngược lại, một bộ phận dân cư làm ăn phát đạt hoặc được đền bù giải toả, bán đất, bán nhà có thu nhập cao đã xuất hiện tâm lý ăn chơi, hưởng thụ, chạy đua theo mốt. Một số người do nhận thức không đầy đủ đã quá đề cao giá trị đồng tiền, đôi lúc, vì đồng tiền đã chà đạp lên nhân phẩm của người thân trong gia đình, anh em họ hàng, tình làng nghĩa xóm phai nhạt.

3. Một số tồn tại và giải pháp

Tồn tại:

- Vấn đề di dân nông thôn - thành thị và gia tăng dân số cơ học.

Gia tăng dân số trong quá trình đô thị hoá ven đô Tp. Hồ Chí Minh đã đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp.

- Tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo.

Trong quá trình đô thị hoá hội nhập và phát triển, người dân đô thị cần có trình độ văn hóa tay nghề cao để tiếp cận với nhu cầu tuyển dụng lao động. Song thực tế cho thấy ven đô thành phố còn nhiều người thất học. Theo số liệu thống kê của Sở Lao động - Thương binh xã hội thành phố, năm 1995 ngoại thành có gần 755.000 người trong hạn tuổi lao động. Số không có việc làm và làm việc không ổn định gần 99.000, tính bình quân mỗi huyện có từ 12.000 đến 15.000 người chưa có việc làm, hầu hết không có nghề chuyên môn và trình độ học vấn bình quân lớp 7/12. Nhà Bè có gần 60.000 người trong độ tuổi từ 15 đến 34, trong đó có khoảng 3000 người không qua lớp 5, 20.000 người chưa học hết Trung học cơ sở. Vì vậy, khu chế xuất Tân Thuận đóng trên địa bàn Nhà Bè rất cần tuyển công nhân, nhưng thực tế số người dân Nhà Bè được tuyển vào rất ít. Thất học, thất nghiệp, đói nghèo sẽ dẫn đến phân tầng xã hội và phân hoá giai cấp. Đây là sự bất ổn đối với mong muốn phát triển một xã hội đô thị công bằng, ổn định và văn minh của nhân dân ta.

- Vấn đề ô nhiễm môi trường:

Tại các quận, huyện ven đô, việc chiếm dụng đất công, san lấp mặt bằng, kênh rạch lấn chiếm lòng lề đường để làm nhà và xây dựng trái phép đang diễn ra hàng ngày làm cản trở đến việc tiêu, thoát nước đô thị. Ở quận 12 sông Vàm Thuật bị lấp chiếm hơn 1.500 m 2vi phạm tuyến hành lang giao thông đường thuỷ. Kênh Tân Trụ (phường 17 - Tân Bình) bị san lấp xây dựng nhà với quy mô lớn. Điều đó đã làm cho nước ngập úng nhà dân sau mỗi cơn mưa, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân và môi trường đô thị.

Ô nhiễm môi trường còn do lượng người nhập cư quá đông, trình độ học vấn có hạn, quen với lối sống tiểu nông, tuỳ tiện vứt xác động vật, vứt rác ra đường, ra các mảnh đất lưu không xen lẫn trong khu dân cư. Mức sống cao cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường. Rác thải trong mỗi gia đình, khu phố ngày càng nhiều nếu không được xử lý tốt, vi trùng sẽ sinh sôi nảy nở, bệnh tật sẽ dễ dàng lây lan.

Ô nhiễm môi trường luôn luôn gắn liền với ô nhiễm nguồn nước. Trong khi tại Tp. Hồ Chí Minh có hơn 6 triêu người; hơn 1 triệu hộ dân chỉ có 300.000 đồng hồ nước. Ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng tỷ lệ cấp nước sạch chỉ đạt tới 60-70%. Ô nhiễm nguồn nước là vấn đề hết sức bức xúc đối với ven đô Tp. Hồ Chí Minh bởi vì đa số người dân vùng ven đều dùng nước máy tự khoan chưa qua kiểm nghiệm và không qua xử lý.

- Vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị

Nhìn chung hầu hết ở các đô thị hiện nay đều xảy ra tình trạng thiếu nhà ở. Đặc biệt là dân nghèo đô thị và những người mới nhập cư vào thành phố. Cho nên một số người đã bất chấp tất cả những quy định về quản lý đô thị. Nhiều hộ tự ý san lấp, lấn chiếm, sang nhượng đất để xây nhà một cách tạm bợ, tuỳ tiện. Việc xây cất không theo quy hoạch làm xuất hiện "nhà không số, phố không tên" chen lấn hỗn độn, đường lối đi lại tối tăm, quanh co. Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng hình sự lẩn trốn pháp luật. Theo số liệu năm 2005 của Cục Thống kê Tp. Hồ Chí Minh, tệ nạn xã hội ở thành phố ngày càng tăng, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên (chiếm trên 80% vụ phạm pháp hình sự). Địa bàn có số vụ phạm pháp hình sự cao là quận Tân Bình và quận Bình Thạnh. Mặt khác, xây cất không theo quy hoạch đã ảnh hưởng đến mỹ quan của thành phố. Chắc chắn điều đó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển thành phố, trường tồn bền vững.

Giải pháp:

Để hạn chế những yếu tố tiêu cực trong quá trình đô thị hoá ven đô Tp. Hồ Chí Minh, thiết nghĩ còn nhiều vấn đề cần giải quyết, trước mắt cần xem xét một số mặt sau đây:

- Tăng cường đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao mặt bằng dân trí, nâng cao nhận thức của người dân. Đồng thời đó là biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề lao động, việc làm để đảm bảo cho người dân ven đô được làm việc có thu nhập ổn định, làm chủ cuộc sống của mình, tránh mọi phiền toái cho xã hội.

- Hạn chế và quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, góp phần lập lại trật tự xã hội đảm bảo cho việc xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững.

- Bảo vệ môi trường đô thị thông qua công tác đồng bộ trên các mặt luật pháp, hành chính, kinh tế xã hội nhằm tạo điều kiện tổ chức tốt môi trường ở và môi trường lao động, giảm thiểu tác động xấu ảnh hưởng đến các yếu tố tự nhiên và xã hội đô thị. Việc bảo vệ môi trường đô thị là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp các ngành, các tổ chức, các cộng đồng và sự tham gia của người dân. Bảo vệ môi trường phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội.

- Tăng cường giáo dục nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới đối với cư dân đô thị, hạn chế những hành vi xấu làm ảnh hưởng đến lối sống văn minh lịch sự của cư dân đô thị.

- Đổi mới trong lĩnh vực quản lý nhà đất đô thị; Tăng cường các biện pháp quản lý đô thị một cách hữu hiệu nhằm giữ gìn bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của đô thị đảm bảo cho việc quy hoạch, phát triển đô thị lâu dài và bền vững.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.