Thực phẩm “sạch” - chờ đến bao giờ?
Lan tràn thực phẩm “độc”
Người tiêu dùng đã quá nhiều lần giật mình với kết quả xét nghiệm ở các Viện vệ sinh dịch tễ, bệnh viện nào đó từ Bắc chí Nam nào là có sử dụng hàn the, focmon… Người tiêu dùng cũng đã từng chưa kịp bàng hoàng hết bởi thực trạng trứng nhập lậu từ Trung Quốc là trứng “giả”, loại trứng gà được sản xuất từ công nghệ hoá chất và máy móc chứ không hề có từ … con gà thì lại choáng váng tiếp bởi công bố của Trung tâm phát triển sắc ký (thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) rằng trứng chứa Sudan - một chất gây ung thư nguy hiểm.
Không cần gà vẫn có trứng gà, trứng gà giá rẻ, ăn trứng gà thoả thích nhé nhưng sau mới té ngửa trứng rởm. Không tham rẻ nữa nhưng nhạt màu quá, người mua cứ chê trứng không đỏ thì bây giờ đã có Sudan - chất nhuộm đỏ công nghiệp vốn chỉ được phép sử dụng trong các sản phẩm như xăng, dầu, sáp, xi đánh giầy… nay lại “chễm chệ” trong… trứng. Gà phải ăn TACN có trộn Sudan để đẻ những quả trứng có lòng đỏ thật đỏ, thoả mãn thị hiếu tiêu dùng trước mắt nhưng than ôi tác dụng chính của loại hoá chất độc hại này trong cơ thể người lại là chuyển hoá thành một số axit amin có khả năng gây ung thư - một căn bệnh vô phương cứu chữa. Tuy phát hiện mới nhất này mới chỉ là kết quả của xét nghiệm 18 mẫu trứng gà, vịt chọn ngẫu nhiên ở các chợ Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí minh. Số mẫu nhỏ và kết quả 9/18 mẫu có phản ứng dương tính thì chưa đủ khẳng định toàn diện nhưng cũng đủ cho chúng ta thấy dấu hiệu có mặt của một loại “sát thủ” mới nguy hiểm hơn trong trứng gia cầm. Đấy là chưa kể khi ăn trứng còn phải đối mặt với các nguy cơ muôn thuở bởi khả năng lưu trú, lây nhiễm vi sinh vật từ khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ không được đảm bảo vệ sinh. Suốt từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, số trứng bị các trạm kiểm dịch thú y tiêu huỷ do không rõ nguồn gốc ngày càng gia tăng, trung bình khoảng 15.000 – 20.000 quả/ 1 lần tiêu huỷ. Song chắc chắn con số này chưa thể mô tả hết số trứng trôi nổi và không được đảm bảo tính an toàn đến sức khoẻ người tiêu dùng ở trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước.
Bữa cơm bây giờ, không có thịt thà là chống chếnh, nhất là các món chế biến từ thịt lợn truyền thống. Khi xã hội thiếu thịt thì cả một thời đâu đâu cũng thấy phổ biến công nghệ lai tạo, sự xuất hiện các giống lợn ngắn ngày, rồi sự phát triển như vũ bão của TACN công nghiệp làm tăng nhanh đàn lợn béo. Khi thịt được bày bán la liệt rồi thì người mua ngày nay lại chê lắm mỡ quá, ăn vào khó giữ được eo thon lại còn nguy cơ tim mạch… thế là lập tức có giống lợn siêu nạc và bây giờ là thức ăn để làm lợn siêu nạc. Song bây giờ, đến thịt lợn nạc cũng không mấy ai dám ăn hồn nhiên nữa vì biết đâu trong đống thịt nạc nần nẫn này lại được tạo ra bởi hoocmon tăng trưởng Beta Agonists (chứa trong 2 loại thuốc là Clenbuterol và Salbutamol – 2 trong 18 chất cấm sử dụng trong Danh mcụ sản xuất TACN). Chất Hoomon này đã từng được giới chăn nuôi và sản xuất thức ăn chăn nuôi rỉ tai nhau là “thần dược” giúp lợn lớn nhanh, cho tỷ lệ nạc cao lắm. Họ lỡ “quên” rằng thứ “thần dược” này khi vào trong cơ thể người Hoocmon này làm cho tim đập nhanh, run cơ, đau đầu, buồn nôn, tăng huyết áp, rối loạn điều tiết hoocmon giới tính… mà oái ăm thay các phương thức chế biến hiện có lại chẳng tiêu huỷ được thứ “thần dược” kia được là bao nên cơ thể người ăn phải lãnh đủ.
Trước bối cảnh này, nhiều người đã xoay sang ưa chuộng món thịt đỏ như thịt trâu, bò, cừu, dê, lươn, nai… nhưng các vật nuôi cho thịt đỏ lại thuộc động vật móng guốc nên đang chịu cảnh dập dình dịch mở mồm long móng. Còn các vật nuôi mới khai thác (thỏ, nhím, lợn rừng…) thì lại quá ít, cung không đủ cầu.
Những thực phẩm thông dụng nhất trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam đang tiềm ẩn những nguy hiểm cho sức khoẻ người tiêu dùng ở mọi lúc, mọi nơi đã và đang đòi hỏi một sự “đột phá” trong quản lý, sản xuất và tiêu dùng nhằm bảo vệ quyền lợi của những người sản xuất chân chính và đặc biệt là sức khoẻ của cả cộng đồng. Song giải bài toán này cần phải bắt đầu từ đâu? Để có lời giải, chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao trong khi nhu cầu thực phẩm “sạch” ngày càng cao mà lại ngày càng khó đáp ứng đến thế.
Tại sao khó có thực phẩm sạch?
Với những thực phẩm không an toàn có nguồn gốc thực vật, điều đáng nói là rau đã được trồng không “sạch” ngay từ khâu chọn đất, làm đất, sử dụng thuốc BVTV không đúng chỉ dẫn, thậm chí còn sai loại thuốc, nước tưới không sạch, phân bón quá liều, dùng quá nhiều loại phân bón hoá học hoặc phân hữu cơ không sạch. Công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch (chế biến và bảo quản) còn sơ sài.
Việc kiểm soát thuốc BVTV, phân bón hoá học nhập lậu, tự chế… trôi nổi trên thị trường còn nhiều hạn chế. Tình trạng môi trường đất, nước xuống cấp làm sản lượng và chất lượng rau, quả bị giảm sút tạo động lực thúc đẩy việc sử dụng phân bón hoá học tràn lan. Môi trường và thời tiết thay đổi, nhiều giống sinh vật ngoại lai du nhập bằng nhiều con đường… làm xuất hiện nhiều bệnh dịch, từ đó làm tăng cường sử dụng thuốc trừ sâu, nhiều nông dân còn sử dụng không đúng quy trình, thời hạn và loại thuốc nên vấn đề đảm bảo an toàn sinh học cho rau là rất khó thực hiện. Có thể nói, trách nhiệm không chỉ do ngành nông nghiệp nói chung, ngành trồng trọt, ngành BVTV nói riêng mà còn có thể thấy vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ… cũng chưa thực sự phát huy hết khả năng.
Việc tồn dư Hoocmon sinh trưởng trong thịt lợn là do người chăn nuôi sử dụng TACN có trộn loại hoomon này. Tương tự, việc trứng chứa Sudan- chất gây ung thư - cũng là do trứng được sản xuất từ những gà ăn TACN có trộn Sudan . Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2006, kết quả mẫu TACN do Cục Chăn nuôi gửi phân tích tại Viện KHKTNN miền Nam là 10,98% dương tính với Beta Agomst. Hàm lượng Clenbuteron trung bình trong thức ăn đạt tới 124, 82 ppb (tiêu chuẩn quốc tế là 0 ppb, tức không được phép dùng). Mẫu thận lợn được Viện kiểm tra cũng phát hiện có chứa Clenbuteron cao hơn tiêu chuẩn quốc tế tới 60 lần.. Tình trạng đáng báo động của chất lượng TACN hiện nay khá bức xúc. Nhu cầu cần phải có thanh tra chuyên ngành về TACN và pháp lệnh về TACN hoặc Luật TACN đang trở nên bức thiết. Cục Chăn nuôi đang rất nỗ lực để giải quyết các vấn đề liên quan song các công tác xây dựng văn bản pháp quy lại không thể 1 sớm 1 chiều được.
Ngành thú y, BVTV vừa vất vả với công tác dập dịch diễn ra hầu khắp các loại vật nuôi, cây trồng và các tình thành trong cả nước vừa phải kiểm soát thực phẩm từ khâu sơ chế, lưu thông với một lực lượng cán bộ thú y, đặc biệt là ở cấp xã còn vừa yếu vừa thiếu; thiết bị kỹ thuật chưa hiện đại và đồng bộ…
Ngành y tế có riêng cả một Cục VSATTP nhưng lĩnh vực quản lý được giao lại chỉ từ khâu thực phẩm đã lưu thông, đã chế biến với đủ loại gia vị, được mua bán với hàng ngàn kiểu tiếp thị, bao bì… nên việc kiểm soát quả thực gặp khá nhiều khó khăn.
Thực phẩm “sạch” không chỉ là do các ngành quản lý chuyên ngành còn gặp nhiều khó khăn mà còn do chính những người tiêu dùng, phần lớn vẫn chấp nhận sử dụng (kể cả trường hợp biết sử dụng hàn the, formon…) vì ngon và rẻ. Không phải chỉ một số công ty sản xuất TACN trộn chất cấm vào sản phẩm thức ăn mà ngay cả một số người chăn nuôi nhỏ lẻ cũng lén lút trộn vào thức ăn cho đàn gia súc của mình. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng còn hạn chế. Việc xâm phạm, khai thác quá mức và gây ô nhiễm môi trường, đất, nước… ngày trở nên trầm trọng. Thậm chí có những vùng đất nông nghiệp hiện nay không thể sản xuất được nữa như công bố mới đây của các vùng Thần Vì, Rặng Ổi, Giếng Đất… bị ô nhiễm bởi… rác sinh hoạt tới mức phải bỏ hoang. Việc kiểm soát thị trường chất cấm sử dụng trong TACN gần như bỏ ngỏ, thậm chí Clenbuteron được bày bán công khai ở Đồng Nai. Người chăn nuôi ở nhiều tỉnh từng rỉ tai nhau rằng cứ mỗi tấn cám trộn thêm 1 lạng thuốc, mà chỉ với 800.000 đ đã có được những 5 lạng để trộn với 5 tấn cám, vậy là yên tâm thu lãi đến cả bạc triệu. Việc xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm được phát hiện như sản xuất thức ăn có chứa chất cấm, kinh doanh thực phẩm không an toàn… còn trong tình trạng kéo dài, ảnh hưởng không tốt đến thị trường và các nhà kinh doanh chân chính. Đồng thời việc hướng dẫn người tiêu dùng còn lúng túng, chưa có cơ quan nào thực hiện được chính thống và hiệu quả công tác này, trong khi bằng mắt thường và những kinh nghiệm cha ông ta để lại khó có thể phân biệt đâu là thực phẩm “sạch” và “không sạch”.
Vượt lên trên những rắc rối này là các quy hoạch sản xuất thực phẩm “sạch”. Tưởng như điều này là cách “đi tắt đón đầu”, phục vụ xu thế tất yếu của tiêu dùng thực phẩm, đảm bảo cơ hội sử dụng thực phẩm sạch hàng ngày cho mỗi người dân nhưng lập tức vấp phải biết bao chuyện đau đầu khác. Nào là vấn đề quy hoạch đất vốn vẫn rối như canh hẹ; nào là chuyện làm thế nào để có đủ nguồn nguyên liệu sản xuất TACN trong nước vừa an toàn vừa rẻ; xây dựng hành lang pháp lý và hỗ trợ cho chăn nuôi trang trại, khép kín an toàn, vệ sinh từ khâu tự sản xuất thức ăn, nuôi dưỡng… đến giết môt, đóng gói, bảo quản…
Thịt và rau được đảm bảo “sạch” rồi lại chịu giá cao nên chưa thu hút được đa số người tiêu dùng. Các vật nuôi mới tạm yên tâm là “sạch” như thỏ, nhím, lợn rừng, lươn, nai… thì chưa có chính sách khuyến khích phát triển ổn định và lại không có ưu thế sản phẩm thịt truyền thống nên giá cả bấp bênh, ít thì quá đắt mà nhiều lên một chút thì người chăn nuôi lại lao đao vì rớt giá.
Giải pháp ở đâu?
Trước ngổn ngang bao vấn đề quanh chuyện “sạch” của quả tang, mớ rau, miếng thịt của nhân dân hiện nay và còn cả công việc kinh doanh của bao người buôn bán thực phẩm, sự nghiệp sản xuất nông nghiệp của nông dân và con đường phát triển bền vững của bao doanh nghiệp, công ty kinh doanh, cung ứng vật tư chăn nuôi, trồng trọt. Phải tìm giải pháp, nhưng giải pháp nào và ở đâu?
Có lẽ công tác có thể làm ngay là tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức VSATTP cho người tiêu dùng và người sản xuất thực phẩm vì sức tiêu thụ là động lực lớn nhất để sản xuất. Người tiêu dùng tạo được thói quen chỉ lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc, có chứng nhận kiểm dịch hoặc rau an toàn. Người kinh doanh và người sản xuất thực phẩm nói “không” với các loại chất cấm để cạnh tranh lành mạnh. Người sản xuất TACN không chạy theo siêu lợi nhuận và tuân thủ đúng pháp luật.
Cục Chăn nuôi nhanh chóng tham mưu để có thể sớm có Pháp lệnh TACN hoặc Luật TACN, xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi vi phạm; đổi mới và tăng cường công tác quản lý chất lượng TACN; tích cực khai thác, hướng dẫn sử dụng nội lực TACN ở từng vùng, miền trong cả nước. Kết hợp chặt chẽ với Cục Thú y để phòng chống dịch hiệu quả trên mọi đàn gia cúc. Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công gnhệ để xây dựng các quy trình kỹ thuật chăn nuôi, các quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, phát triển công nghệ giết mổ, chế biến tập trung hiệu quả và thân thiện với môi trường. Đồng thời chú ý khai thác nhiều loại vật nuôi mới tăng sự lựa chọn cho người tiêu dùng và đa dạng nguồn thu nhập cho người chăn nuôi. Đẩy nhanh tiến bộ sản xuất Test thử nhanh thịt có dư lượng Hoocmon sinh trưởng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra… và đặc biệt là giải páhp phải kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan ban ngành và phối hợp kịp thời với các cấp chính quyền trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm soát việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Trong lúc chờ các văn bản quy phạm pháp luật bổ sung, các giải pháp đồng bộ của các cơ quan chức năng, mỗi người dân tự ý thức cho mình và mỗi nhà sản xuất kinh doanh liên quan đến thực phẩm cho người nên trăn trở nỗi niềm về tương lai sức khoẻ và chất lượng giống nòi của con cháu chúng ta.








