Thư pháp và văn hoá
Hoa quả bầy trên bàn thờ là trưng lộc của trời đất thuận theo mùa nào thức nấy, hương đèn là chuyện truyền thống của con người, còn câu đối tết thể hiện nét văn hoá văn minh. Xin nhắc chuyện bàn thờ và đèn hương trước. Bàn thờ tổ tiên của người Việt, dù ở bất cứ đâu, là sự thể hiện tính tích thiện, và nét văn hiếu nghĩa đặc trưng truyền thống Việt.
Việc đốt đèn lấy ánh sáng xoá bóng tối ai cũng biết, nhưng hình tượng đèn sáng xoá u mê, mông muội thì ít người để ý. Lưu ý là xin đừng thắp quá nhiều đèn tốn năng lượng, dễ gây bệnh thị giác cho trẻ nhỏ.
Việc thắp hương, đốt trầm theo cách nhìn vật chất là lấy hương thơm xua khí độc, nhận khí mới trong lành, xông thơm nhà đất và diệt khuẩn, còn về mặt tâm linh, khi người thắp hương, chăm chú nhìn đốm lửa đỏ chính là lúc gạt bỏ âu lo, thoát khỏi bấn loạn “stress”, tịnh lặng hồi tâm, sám hối, tập trung tinh thần hướng về nguồn cội, ghi nhớ công đức của tiền nhân! Hương thắp tối đa ba nén trưng: một nén thờ trời phật, một nén thờ đất đai và nén thờ tổ tiên, thắp tối thiểu thì chỉ cần một nén khi có chủ ý hợp nhất trời - đất - người vào một, vừa tiết kiệm, vừa trang nghiêm, không lãng phí. Đốt cả nắm hương rất lãng phí, hại môi sinh.
Chuyện thư pháp với việc “xin chữ” và “cho chữ” “phượng múa rồng bay” trên giấy hồng điều vào ngày tết nhà nhà đều treo để cầu mong phúc đức, trước tiên phải lựa thời điểm, theo tục xưa, lấy ngày “trực thành” đi “xin chữ”, ngày “trực khai” “cho chữ” và treo chữ với hàm ý thành đạt và khai thông.
Xin chữ và cho chữ là nét văn hoá đặc trưng, tiêu biểu của phương Đông nông nghiệp, của nền văn hoá Hoa Hạ - Trung Hoa, của Nhật Bản, Hàn Quốc và của Việt Nam . Thường thì, người đi “xin chữ” cần tấm lòng thành, người “cho chữ” sẵn đủ đức thuần hậu, đủ tài cho chữ. Cả hai người “xin chữ” và “cho chữ” là hai đối tượng của một lĩnh vực văn hoá được gọi là thư pháp. Thưlà chữ nghĩa và pháplà phép tắt viết chữ nghĩa, là quy phạm khi viết chữ. Hán tự kiểu chữ tượng hình, đặc sắc ở chỗ chỉ một thao tác viết thực hiện hai chức năng: một là ghi âm tạo hình chữ, hai là đồng thời ngữ nghĩa hoá từ vựng, nghĩa là xác lập nội dung ý nghĩa của con chữ. Hán tự đã làm một việc mà thực hiện được hai nội dung: định lượng - ghi âm hình chữ và định tính - ngữ nghĩa hoá từ vựng, rồi tuỳ theo điều kiện và trình độ hình dung, tưởng tượng của những cộng đồng xã hội mà tạo thêm các ý nghĩa cụ thể cho một con chữ, do đó những con chữ có “đa” nghĩa. Hán tự mô tả khái niệm tối giản bằng các nét “ngang bằng sổ ngay”. “Ngang bằng sổ ngay” là điều kiện “ắt có” (tung - hoành), là phép đầu tiên viết chữ Hán cùng với việc ngữ nghĩa hoá từ vựng là điều kiện “đầy đủ” mới tạo thành thư pháp… mà chữ thập (là 10) là điển hình của sự phối hợp hai chiều - ngang - thời gian (trục hoành) “ngang” viết trước; chiều dọc - không gian (trục tung) “sổ” viết au…
Sách vở ghi nhận thư pháp Trung Hoa có lịch sử phát triển bền vững theo tiến trình lịch sử mấy nghìn năm, mỗi giai đoạn con chữ của Hán tự có tên gọi riêng, tách bạch từng thời phát triển, khởi đầu hình như vẽ theo kiểu chân chim (hay “gà bới”), rồi tới việc thắt nút dây thừng tạo thành kiểu chữ hoa văn thừng, khắc chữ lên xương thành giáp cốt văn, viết chữ lên thanh tre xanh thành kiểu chữ xanh và trên cơ sở ấy mà phát triển thành các loại chữ Triện, chữ Khải, chữ Lệ (kiểu chữ viết lép dẹp, có một nét ngang điển hình “đầu tằm đuôi én” do tầng lớp nô lệ sáng tạo ra, được tập quyền phong kiến thừa nhận và dùng, chữ “lệ” này không có nghĩa là đẹp trong chữ “mĩ lệ”), chữ Thảo, chữ Hành… và còn nhiều những quy phạm, phép tắc chi tiết cụ thể và khái quát để phân biệt, đánh giá việc viết đúng hoặc sai, đẹp hoặc xấu, có bút lực uy dũng, cương nghị hay uyển chuyển không. Chúng tôi không đủ kiến thức chuyên sâu, hiểu rộng về thư pháp nhưng mạnh dạn ghi nhận nhằm khẳng định đặc tính văn hoá của vấn đề.
Khác hẳn với kiểu chữ Hán tự, kiểu chữ quốc ngữ của chúng ta đang dùng theo mẫu tự La tinh, viết theo một chiều ngang chỉ mới có một điều kiện “ắt có” “hoành” nhưng vẫn thiếu “tung”, không có điều kiện ngữ nghĩa hoá từ vựng cùng một lúc với việc “ghi âm” bằng trắc sáu thanh: không, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Việc ghi âm theo mẫu tự La tinh chỉ là việc “phiên âm” chữ cái, ghép chúng thành vần, ghép vần thành chữ, không thể ngữ nghĩa hoá các con chữ đó được. Chữ tạo trước nghĩa ghép sau nên “đơn” nghĩa, do đó không thể tạo ra cái gọi là “thư pháp Việt” được. Có chăng chỉ có thể gọi đó là “thư hoạ”, vẽ chữ chơi kiểu vẽ tranh “ấn tượng” người vẽ thích vẽ thế nào thì tuỳ, thả sức, người xem thì cứ việc đoán mò vì không có quý tắc. Trào lưu “thư pháp Việt” là cách “tự bất minh” do thói quen tuỳ tiện khá phổ biến của nền văn minh nông nghiệp, tự ý, tự nghĩ chuẩn không qua kiểm nghiệm thực tế, tự phong như hề chèo: “Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?”.
Sở dĩ chúng tôi nêu vấn đề trên nhằm nhấn mạnh cái gốc văn hoá trong truyền thống nhân - tâm - đức thể hiện bằng tính hiếu hoà - khiêm cung - thuận động của người Việt. Đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, nằm trong cùng hệ thống văn minh nông nghiệp, với sức mạnh nội hàm từ tư duy hệ thống có hành động thiết thực, hiệu quả của chính mình, so với ba nước quanh ta, đã có thời cùng dùng Hán tự, thì một nước hiện là siêu cường kinh tế, một nước là con rồng châu Á, một nước đang đưa người bay vào vũ trụ, còn ta? Chúng ta đã và đang nhìn thẳng vào sự thật lịch sử để khẳng định nền văn hoá của ta, khẳng định cái gốc văn hoá dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá gốc Việt ấy nên cần, rất cần sự học và hành căn cơ, đủ sức khái quát và sáng tạo trên cái nền văn hoá với xung lực căng tràn trong mùa xuân mới!








