Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/03/2008 00:03 (GMT+7)

Thử đi tìm một mô hình quản lý khoa học khác

Nếu cứ thế này, liệu trường đại học nào sẽ lọt vào tốp 200 của thế giới, như mục tiêu Bộ GD& ĐT đặt ra cho năm 2020, thậm chí xa hơn? Liệu đội ngũ KHCN của ta làm được gì trong tổ chức đấu thầu, xét duyệt thiết lế, xây dựng đến vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Đông Nam Á, hay sẽ phải đứng chầu rìa nhìn người nước ngoài định đoạt mọi chuyện. Và liệu đến năm 2020 Việt Nam có thể trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại chăng? Vì vậy theo GS Phạm Duy Hiển, đã đến lúc phải xem xét lại cuộc chơi, thậm chí ngay từ triết lý của nó. Tại sao những ý tưởng công bằng, dân chủ và tự chủ hằng chỉ đạo thiết kế và thực thi mô hình quản lý khoa học hiện nay (từ tuyển chọn, đấu thầu, xét duyệt, nghiệm thu đề tài, cho đến cái mô thức 115 còn dang dở) lại chưa phát huy tác dụng? Có gì đó chưa ổn, thậm chí ngay từ những quan niệm tưởng chừng không còn gì phải bàn cãi, như tại sao Việt Nam cần nghiên cứu khoa học (NCKH)? 1) Từ đó tìm ra một mô hình phát triển KHCN khác, có thể là đối cực với mô hình hiện nay, nhờ đó mà tri thức và năng lực đội ngũ khoa học mới tiến nhanh theo cấp số nhân, đưa KH&CN thực sự trở thành động lực của phát triển kinh tế- xã hội.

Nhìn sang Ấn Độ

Thử nhìn sang Ấn Độ xem họ thực thi "quốc sách hàng đầu" như thế nào? Trong diễn văn khai mạc đại hội hàng năm Hiệp hội Khoa học toàn Ấn Độ vừa qua, Thủ tướng Manmohan Singh đã phá cách hết sức ngoạn mục 2) Thủ tướng không bắt đầu bằng lời tôn vinh các nhà khoa học dựa trên bản báo cáo thành tích được Hiệp hội soạn sẵn như thường lệ, mà gác nó lại trong ngăn kéo sau khi tham khảo ý kiến cố vấn khoa học độc lập của mình. 

Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong NCKH. Chính vì thế mà ngày nay Ấn Độ có chỗ đứng trên hầu khắp mặt tiền khoa học thế giới.

" Trong khi Chính phủ đang tìm mọi cách để đầu tư tối đa cho khoa học, tôi xin kêu gọi các vị cũng phải dốc toàn bộ thời gian và năng lực của mình để mang lại sinh khí mới cho các trung tâm nghiên cứu Ấn Độ... Tôi vô cùng lo lắng khi thấy sinh viên theo học các bộ môn khoa học ngày càng ít đi. Chúng ta phải tìm ra hàng loạt giải pháp thật sâu rộng để vực dậy một hệ thống đại học đang xuống cấp. Tôi thật buồn khi biết chất lượng nghiên cứu ở các trường đại học lẫn những viện khoa học hàng đầu của chúng ta đang tụt hậu. Chúng ta chỉ đóng góp có 2,7% số công bố quốc tế so với 6% từ Trung Quốc 2). Rồi đây, rất có thể, tôi sẽ cho mời tư vấn nước ngoài đánh giá khách quan các viện nghiên cứu của chúng ta".

Muốn "xài" ngay công nghệ hạt nhân mà không cần NCKH!

Việt Nam đang có tham vọng dẫn đầu Đông Nam Á về điện hạt nhân với công suất 2000 MW năm 2020, tăng vọt lên 8000 MW năm 2025. Khát điện và có lực lượng hùng hậu như Ấn Độ và Trung quốc cũng chưa bao giờ dám mơ đến một tốc độ phát triển tên lửa như Việt Nam . Bởi vấn đề an toàn vẫn còn đó, mà điện hạt nhân có an toàn hay không lại tùy thuộc vào con người, vào đội ngũ chuyên gia trình độ cao được kinh qua NCKH. Rất tiếc, những người sắp nắm trong tay khoản đầu tư khổng lồ này của đất nước không tỏ ra bận tâm trước nhân lực còn quá mỏng về khoa học và con số không về công nghệ ở nước ta trong lãnh vực năng lượng hạt nhân.

Không thể có chính sách đúng nếu đánh giá sai năng lực đội ngũ KHCN. Dù sao đẳng cấp của Ấn Độ vẫn cao hơn ta rất nhiều, họ giàu truyền thống và đầy thành tích. Trường đại học của họ đã có Nobel từ năm 1930. Sau khi giành độc lập, năm 1950 Thủ tướng Nehru đã đích thân tổ chức ra trường Đại học Công nghệ Ấn Độ (IIT), đến nay đã có hơn 100.000 tinh hoa ra lò, không ít người trong số họ lừng danh khắp thế giới. Người ta bảo Silicon Valleycủa Mỹ sẽ không vận hành được nếu thiếu những cái đầu đến từ IIT 3). Chăm lo vun đắp đội ngũ tinh hoa khoa học là nét đặc trưng nhất trong phát triển của Ấn Độ. Hàng năm 250.000 thanh niên ưu tú trong cả nước thi nhau tranh tài trong cuộc sơ khảo để chọn ra 100.000 ứng viên vào IIT, từ đây chỉ có 4000 lọt qua vòng chung kết.

Dân chủ hình thức trong một môi trường học thuật bị hành chính hoá và hàng rào chuẩn mực nghiêm túc bị gỡ bỏ chẳng những không giúp ta tiến lên mà còn bị lợi dụng làm tấm bình phong dung túng cho tiêu cực và lãng phí.

Tuy bị cô lập trong một thời gian dài, Ấn Độ vẫn không hề xa rời các sân chơi quốc tế về KHCN. Ai đến thăm Ấn Độ trước đây đều nhận ra sự tương phản kỳ lạ giữa hoạt động học thuật cao siêu ở các trung tâm khoa học với tình trạng lam lũ của đám dân nghèo nheo nhóc trong lều bạt dựng ngay trên đường phố. Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong NCKH. Chính vì thế mà ngày nay Ấn Độ có chỗ đứng trên hầu khắp mặt tiền khoa học thế giới.

Nhưng ngay trong bài diễn văn trên, Thủ tướng Singh đã cảnh báo giới khoa học chớ có ngủ say, vì họ còn có quá ít các công bố quốc tế, mà đây lại là một tiêu chí trung thực nói lên khả năng đổi mới công nghệ của đất nước, một yêu cầu sống còn của Ấn Độ trước áp lực cạnh tranh toàn cầu hiện nay. 

Phòng thí nghiệm Tia Vũ Trụ

Với nhiều thiết bị đồ sộ, tinh vi do GS Pierre Darriulat, nhà vật lý hạt nổi tiếng thế giới, đã mang sang Việt Nam nhiều thiết bị tinh vi để nghiên cứu tia vũ trụ, đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ và giảng dạy Vật lý Thiên Văn. Nhưng chắc chắn phòng thí nghiệm này sẽ tươm tất và tấp nập hơn nhiều nếu tấm biển "Tia Vũ Trụ" được thay bằng một công nghệ cao nào đó có thể hái ra tiền. Cho dù đem hết nhiệt tình làm thiện nguyện cho Việt Nam từ nhiều năm nay, ông không khỏi bẽ bàng khi mới đây nhà trường thông báo ông sẽ không tiếp tục giảng dạy môn Vật lý Thiên văn nữa. Bất luận lý do gì, chả lẽ những thiên hà, lỗ đen, big bang, năng lượng tối …, nơi giao nhau kỳ diệu giữa cái vô cùng bé và vô cùng lớn của thế giới vật chất, giữa những ngọn nguồn vô tận của không gian và thời gian, nơi hội tụ hiếm thấy giữa tư duy khoa học chính xác vớí cảm thụ nghệ thuật sâu lắng, lại được truyền đạt bởi một chuyên gia thuộc hàng tốp trên thế giới…, mà không thiết thực hay sao? 

Vấn đề của chúng ta. Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu khoa học?

Một quỹ đạo chuyển động được xác định bởi ba yếu tố: mô hình chuyển động, điều kiện ban đầu và điều kiện biên.Khi cần thay đổi quỹ đạo phải xem xét lại cả ba yếu tố này. 

Về điều kiện ban đầu,chúng ta mặc nhiên cho rằng Việt Nam đã có một đội ngũ KHCN đủ lớn mạnh để tổ chức ra cuộc tranh tài sòng phẳng (xét theo ý đồ thiết kế ra cuộc chơi hiện nay) trong những chương trình mục tiêu ngắn hạn theo sản phẩm mà không cần kinh qua những chương trình phát triển dài hạn các chuyên ngành khoa học.Trên thực tế, lấy đâu ra một đội ngũ như thế khi chúng ta đi sau thế giới hàng trăm năm và còn đang nghèo khó lạc hậu. Vị thế của chúng ta hiện nay trên thế giới còn xa mới sánh được với Ấn Độ trước đây 60 năm.

NCKH tác động đến phát triển xã hội của ba con đường văn hoá – dân trí, công nghệ - sản xuất và quyết định chính sách phát triển của đất nước. Theo ba kênh này, NCKH nghiêm túc ở nước ta đều còn đang nằm bên lề.

Về điều kiện biên, chúng ta không chấp nhận các sân chơi quốc tế để tiệm cận đến mặt tiền KHCN thế giới như mọi nước khác, để lọc lựa những nghiên cứu có chất lượng, sớm chấm dứt tình trang tù mù do thiếu thước đo tin cậy. Chẳng những thế, nhiều người làm đề tài khoa học không quan tâm đến kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp ở các nước. Cả nước hiện nay vẫn chưa có nơi nào để nhà khoa học có thể tiếp cận với các kết quả nghiên cứu mới nhất trên thế giới, một điều rất bình thường ở bất cứ trường đại học nghiên cứu nào ở nước ngoài.  Với một đội ngũ chuyên gia còn quá mỏng, chúng ta lại đặt kỳ vọng vào các hội đồng tuyển chọn, xét duyệt và nghiệm thu, lấy số đông làm thước đo chất lượng. Dân chủ hình thức trong một môi trường học thuật bị hành chính hoá và hàng rào chuẩn mực nghiêm túc bị gỡ bỏ chẳng những không giúp ta tiến lên mà còn bị lợi dụng làm tấm bình phong dung túng cho tiêu cực và lãng phí. Kết quả kiểm toán nhà nước gần đây 4) chắc chỉ mới xới lên một phần.

Các doanh nghiệp chẳng những chưa mặn mà đóng góp kinh phí cho NCKH (như ở các nước khác), mà còn chen chân vào cái bầu sữa ngân sách nhà nước. Nghiên cứu sản xuất đầu lọc thuốc lá, chế tạo một số thiết bị chuyên dụng, đơn chiếc v.v… lý ra là chuyện của doanh nghiệp, lại trở thành mục tiêu của nhiều đề tài cấp nhà nước.

Nhưng mấu chốt nhất vẫn là các quan điểm chủ đạo trong mô hình phát triển. Tại sao Việt Nam cần NCKH, ai nghiên cứu, và nên tổ chức như thế nào? Câu hỏi thứ nhất tưởng không còn gì phải bàn cãi. Nhưng chính đây lại là cái nút thắt cần tháo gỡ trước khi bàn đến những chuyện khác. NCKH chưa đặt đúng chỗ, đúng tầm ở nước ta. Thật vây, NCKH tác động đến phát triển xã hội qua ba con đường văn hoá - dân trí, công nghệ - sản xuấtvà quyết định chính sách phát triển của đất nước. Theo cả ba kênh này, NCKH nghiêm túc ở nước ta đều chưa có chỗ đứng.
Ba kênh này lại tương quan mật thiết với nhau nên không thể chỉ nhấn mạnh một kênh. Sẽ rất tai hại nếu nói khoa học chỉ nghiên cứu những đề tài thiết thực, nhà trường chỉ dạy những gì thiết thực, mà khái niệm "thiết thực" lại được hiểu đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế đơn thuần. Quá nhấn mạnh mục tiêu kinh tế chính là quên đi vai trò động lực kinh tế của NCKH thông qua mặt trận giáo dục và dân trí. Mà có dân trí mới có quan trí, từ đây mới có những quyết sách đúng đắn cho đất nước.

Hệ thống đại học tồn tại từ lâu mà đến nay vẫn chưa có trường đại học nghiên cứu. (Quy chế về các trường đại học nghiên cứu đang được soạn thảo, chưa biết khi nào mới ban hành). Lạm phát bằng tiến sĩ vì không chấp nhận công bố quốc tế làm tiêu chí chính là một trong những nguyên nhân làm sa sút đại học. Trong khi ở nước ngoài NCKH thường tập trung vào các trường đại học, những học giả lớn thường là các giáo sư đại học, công bố quốc tế là tiêu chí bảo đảm sự tồn tại và thăng tiến của các giáo chức đại học, thì ở ta thầy giáo giành rất ít thời gian cho NCKH 5), công bố quốc tế không được khuyến khích. Cho nên, thành tích NCKH của những trường đại học tiên tiến nhất ở Việt Nam còn quá khiêm tốn so với Thái Lan 5), mà Thái Lan lại quá khiêm tốn so với thế giới.

Sứ mạng của các Trung tâm nghiên cứu chất lượng cao là phát triển đội ngũ khoa học tinh hoa qua việc tạo dựng một môi trường học thuật tự do sáng tạo theo tinh thần đồng đội trong NCKH.

Nhưng NCKH đâu phải được xem như công đoạn quan trọng nhất trong chuỗi khoa học -  công nghệ - sản xuất ở nước ta. Tâm thức phổ biến là muốn đề tài phải cho ra ngay các sản phẩm có thể sờ mó được theo kiểu mỳ ăn liền, trong khi muốn có công nghệ lại phải NCKH công phu và nghiêm túc. Vốn cách rất xa mặt tiền công nghệ thế giới, nhiều khi chỉ cần kiến thức ở bậc đại học, kết hợp với khai thác thông tin trên mạng, người ta có thể tạo ra, hoặc nội địa hoá, một số công nghệ nhất định nào đó. Không thể phủ nhận giá trị của con đường này, nhưng không thể xem đây là quy luật phổ quát của những nước đi sau.

Trong hoạch định chính sách phát triển đất nước, vai trò của NCKH cũng rất mờ nhạt. Có thể nêu ra khá nhiều dẫn chứng cho thấy các nhà hoạch định chính sách thích sử dụng các báo cáo hành chính hơn là những báo cáo khoa học chính xác.Chiều hướng gia tăng dịch bệnh, độc tố trong thực phẩm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường … hiện nay chưa tìm thấy lời giải từ những nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Đây lại là những lãnh vực đa ngành, liên ngành, trong khi nền khoa học của chúng ta lại mang nặng tính hàn lâm chuyên ngành.

Từ sản phẩm NCKH đến thương mai hoá đại trà

Bao nhiêu thiết bị khoa học chính xác rất đắt tiền phải nằm đắp chiếu.

Vì nhiều người chỉ thích sử dụng chúng làm dịch vụ chứ không quan tâm đến NCKH và các quy trình bảo đảm chất lượng không được tuân thủ. Khi vào cuộc mỗi nơi cho ra một kết quả, cơ quan quản lý không biết tin ai. Đo lường chuẩn xác - khoa học có trong mọi khoa học - không được nghiên cứu và giảng dạy chu đáo ở nước ta. Nó giải thích tại sao Việt Nam có rất ít công bố quốc tế về các khoa học thực nghiệm.

Có bao nhiêu thiết bị, chế phẩm và quy trình công nghệ làm ra từ các đề tài NCKH, hoặc đem trưng bày ở các TECHMART, được thương mại hoá đại trà thành công? Bộ KHCN nên mạnh dạn tiến hành cuộc tổng duyệt này, có thế mới rút ra được bài học cho mô hình quản lý hiện nay. Chắc chắn tỷ lệ sản phẩm được thương mại hoá thành công là rất thấp (nếu được 10% là rất đáng mừng), cũng như số công bố quốc tế của Việt Nam còn rất khiêm tốn, và rõ ràng hai đầu ra này của NCKH có liên quan với nhau. Chất lượng nghiên cứu càng cao, khả năng thương mại hoá sản phẩm càng lớn. Con đường từ NCKH đến sản xuất của chúng ta thể hiện sự manh mún, tự phát, thiếu quy hoạch, bắt nguồn từ cách quản lý khoa học hiện nay.  

Các doanh nghiệp chẳng những chưa mặn mà đóng góp kinh phí cho NCKH (như ở các nước khác), mà còn chen chân vào cái bầu sữa ngân sách nhà nước. Nghiên cứu sản xuất đầu lọc thuốc lá, chế tạo một số thiết bị chuyên dụng, đơn chiếc v.v… lý ra là chuyện của doanh nghiệp, lại trở thành mục tiêu của nhiều đề tài cấp nhà nước. Cứ theo đuổi hết thiết bị này đến thiết bị khác, bao giờ mới có được tiềm lực cho nền khoa học Việt Nam ?

Chúng ta đang có một nền khoa học ăn đong, ăn liềndo quá chú trọng đến những sản phẩm rời rạc, không gắn kết với nhau. Do đó các tập thể khoa học cũng phải ăn đong theo đề tài. Thắng thầu sẽ có tiền để nghiên cứu, tiêu hết tiền, không nghiên cứu nữa. Bức tranh này hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật tích lũy liên tục và kế thừa, nhờ đó mà tri thức và năng lực đội ngũ khoa học mới tiến nhanh theo cấp số nhân. Chuyên gia và học giả tầm cao rất khó xuất hiện và phát triển từ môi trường học thuật hiện nay.

Một mô hình mới

Vậy cuộc chơi mới phải bắt đầu từ nhận thức lại những quan điểm cơ bản trong phát triển KHCN. Cú "kick-off" giờ đây đang ở trong chân của những người quyết định chính sách. Giới khoa học cũng phải dũng cảm tự nhận mình là ai trong thế giới hội nhập này. Nếu chúng ta thực sự còn non yếu, chính sách KHCN phải lấy việc phát triển đội ngũ và môi trường học thuật lành mạnh 3) làm cứu cánh, việc tạo ra các sản phẩm kinh tế cụ thể chỉ nên xem là phương tiện.Chỉ đến khi đội ngũ và môi trường học thuật đạt đến "khối lượng tới hạn" 6), KHCN mới phát triển tự nhiên trong mối tương hỗ với giáo dục, văn hoá và sản xuất, nghĩa là bắt đầu trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội.

Cần khởi động ngay một đề án mười năm nhằm nâng cấp và xây dựng mới khoảng 200 bộ môn ở các trường đại học đủ trang thiết bị hiện đại và hàng năm mời 200 chuyên gia nước ngoài đến làm việc dài hạn.

Để thực hiện chính sách trên, mô hình phát triển phải chuyển trọng tâm từ các chương trình ngắn hạn định hướng theo sản phẩm sang các chương trình dài hạn phát triển ngành, xây dựng các trung tâm nghiên cứu có chất lượng, đặc biệt là chất lượng cao (center of excellence) chủ yếu ở các trường đại học như những đơn vị cấu trúc cơ bản của nền khoa học, vừa có chỗ đứng trên thế giới vừa có tác động đến nền kinh tế, nâng cao vai trò và trách nhiệm của các đầu đàn khoa học, mở rộng các đơn vị chuyên ngành hiện có theo hướng cả chuyên sâu lẫn liên ngành, và dứt khoát sử dụng các sân chơi quốc tế làm thước đo chất lượng.

Xây dựng các trung tâm nghiên cứu chất lượng cao (TTNCCLC) là nội dung chủ yếu và tiêu chí đánh giá thành công của mô hình này. Nền khoa học của đất nước sẽ lớn lên theo các trung tâm này cùng với những đầu đàn và đội ngũ ở đây. Sứ mạng của các TTCLC là phát triển đội ngũ khoa học tinh hoa qua việc tạo dựng một môi trường học thuật tự do sáng tạo theo tinh thần đồng đội trong NCKH.

Máy kiểm xạ chuyên dụng

Trong danh mục chương trình cấp nhà nước 2006 - 2010 thấy có đề tài chế tạo thử một máy kiểm xạ chuyên dụng. Những đề tài kiểu này đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần từ nhiều năm nay, lần nào người ta cũng hứa sẽ đưa ra sản xuất đại trà. Nhưng giờ đây Việt Nam vẫn chưa có máy kiểm xạ nào được sản xuất trong nước, ngay những máy có tính năng đơn giản và có nhu cầu ngày càng lớn ở nước ta. Ở các nước, máy kiểm xạ thường do các xưởng chế tạo, ban đầu có tính năng đơn giản, dần dà qua kinh nghiệm tích lũy được có thể chế tạo những máy chuyên dụng ngày càng có tính năng cao cấp hơn

Nội dung nghiên cứu hướng theo các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nhưng qua đó phải nâng cao được tiềm lực của ngành, bảo đảm tính kế thừa những kết quả đã có từ trước chứ không ăn đong theo các đợt đấu thầu như hiện nay (đương nhiên vẫn phải có các tổ chức phản biện). Để bảo đảm tính tích lũy và kế thừa, các TTCLC phải được nhà nước/doanh nghiệp chuẩn y kinh phí dài hạn trên 5 năm một, và có chế độ ưu đãi thích đáng cho các thành viên, thí dụ có chế độ thưởng đặc biệt cho các công trình nghiên cứu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Vẫn phải cần một cuộc du nhập khoa học mới

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cho đến thời điểm này Chính phủ Việt Nam chưa có bất kỳ một kế hoạch nào trong việc đào tạo những kỹ sư hạt nhân trình độ cao một cách nghiêm chỉnh. Nếu như vậy, khi Vịêt Nam mua những nhà máy điện hạt nhân của nước ngoài, chẳng hạn như mua của Nhật, thì lúc đó trong nhà máy người Nhật sẽ điều hành, còn người Việt Nam sẽ chỉ “quét nhà”. Điều này có nghĩa Việt Nam đã bị thực dân hoá bởi những nước phát triển trong lĩnh vực hạt nhân.

GS. Pierre Darriulat

Nhưng với lực lượng đầu đàn quá mỏng hiện nay, không thể thực thi con đường này mà không du nhập khoa học lần thứ haitừ các nước tiên tiến 7). Cần khởi động ngay một đề án mười năm nhằm nâng cấp và xây dựng mới khoảng 200 bộ môn ở các trường đại học đủ trang thiết bị hiện đại và hàng năm mời 200 chuyên gia nước ngoài đến làm việc dài hạn. Chi phí trung bình cho mỗi cơ sở vào khoảng 5 triệu USD, bao gồm đầu tư trang thiết bị và vận hành trong mười năm. Con số này có thể thăng giáng từ 2 triệu đến 20 triệu USD tuỳ trường hợp cụ thể, nhưng tổng kinh phí sẽ là 5 triệu USD x 200 = 1 tỷ USD, nghĩa là 100 triệu USD/năm. Tính thêm chi phí hợp tác quốc tế và thuê chuyên gia, trong số này có những nhà khoa học gốc Việt đang sinh sống ở nước ngoài, sẽ lên đến 125 triệu USD/năm.

Có thể nói mô hình trên đây là đối cực của mô hình hiện nay, do đó chúng ta phải mất một thời gian chuyển tiếp, trong đó cả hai mô hình có thể đồng tồn tại. Lại rất cần chiếc đũa chỉ huy của các nhạc trưởng thay vì các cơ chế dân chủ hình thức như hiện nay.

Pierre Dariulat, Tia sáng số 13, ngà 5/7/2007. 2) J Thottam/S. Clara, A reuno in of the “MIT of India”, New York Time 9/7/2007; 3 Tuổi trẻ, 6/9/07; 4) Báo cáo về giảng dạy khoa học máy tính, kỹ thuật điện và vật lý ở một số trường đại học Việt Nam, Vietnam Education Foundation phối hợp với Bộ GD ĐT, VIII/2006. 5) Phạm Duy Hiển, So sánh đại học hàng đầu Thái Lan và Vịêt Nam . Tia sáng 2007. 6) Phạm Duy Hiển, Đào tạo hai vạn tiến sĩ “xịn” - tại sao không?

Nguồn: Vật lý ngày nay, số 1, 2 - 2008, tr 10.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.