Thời điểm đáng lo cho tài nguyên di truyền
Dẫu sao thì các hành động của con người cũng làm tăng tốc độ biến đổi tài nguyên di truyền. Sự phát triển của con người đã sáng tạo ra các giống đã được phát hiện cho đến ngày hôm nay, nhưng các chiều hướng kinh tế và xã hội hiện thời cũng có khả năng tiềm ẩn làm cho chúng hao tổn rất nhanh. Những thay đổi về môi trường hoặc những biến đổi trong hệ sinh thái nông nghiệp, kể cả hiệu ứng của quả đất ấm dần lên ( Anderson , 2004) đều có thể ảnh hưởng đến tài nguyên di truyền. Chiến tranh, dịch bệnh và những hiểm hoạ thiên nhiển cũng có ảnh hưởng tương tự.
Tính đến năm 2000 đã nhận dạng được 6300 giống gia súc. Trong số này, trên 1.300 giống đã bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng. Có nhiều giống khác còn chưa kịp nhận dạng được nhưng có thể chúng đã biến mất trước khi đăng ký hoặc phổ cập: châu Âu có tỷ lệ giống bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất (55% giống có vú và 69% giống gia cầm). Châu Á và châu Phi tương ứng 14 và 18% nhưng các số liệu ghi chép trong Danh sách thế giới về đa dạng vật nuôi của các nước đang phát triển không đầy đủ bằng các nước đã phát triển. Khi tìm hiểu các giống đã được đăng ký trong Ngân hàng thế giới có 1.687 giống bị liệt vào hàng có nguy cơ tuyệt chủng. Nếu kể cả các giống chưa kịp đăng ký, giống có nguy cơ bị tuyệt chủng có thể lên đến con số 2.255.
Để ước lượng được mức độ thất thoát TNDT ĐV, việc làm không dễ. Ngoài những lỗ hổng kiến thức về đặc điểm, hiện trạng của TNDT ĐV, việc đánh giá đang bị vướng vì các phương pháp điều tra giống (Ayalew và Rowlands, 2004; Lokhit Pashu - Palak Sansthan, 2005) và phương pháp đánh giá trạng thái các quần thể có nguy cơ bị tuyệt chủng (Schert, 2000; Drucket, 2005) chưa được chuẩn hoá. Trên khắp thế giới, sự thất thoát về giống động vật đang diễn tiến trong lúc người ta còn chưa biết những giống nào hàm chứa đa dạng di truyền quan trọng hoặc những gen đặc thù cần phải bảo tồn hoặc đưa vào các chương trình nhân giống. Việc thất thoát tài nguyên di truyền có liên quan đến những thay đổi về tổ chức các hệ thống sản xuất.
Thâm canh và những thay đổi trong các hệ thống sản xuất
Ở phần lớn các nước trên thế giới đang chuyển từ hệ thống quảng canh truyền thống sang hệ thống thâm canh. Hiện không sẵn có nhiều số liệu diễn tả cách phân bổ các giống trong hệ thống sản xuất, nhưng dựa vào số liệu điều tra nông nghiệp cũng có thể bộc lộ được một cách gần đúng. Vì các hệ thống thâm canh dựa trên cơ sở các giống năng suất cao nuôi bằng thức ăn tinh cho nên năng suất bình quân của tổng đàn và dự phần thức ăn tinh có thể dùng làm tín hiệu thể hiện mức độ công nghiệp hoá của ngành. Từ phần sản phẩm của hệ thống chăn nuôi nào đó cũng có thể đoán biết việc sử dụng những giống năng suất cao trong các hệ thống đó.
Có lập luận cho rằng (IDL, 2002), hiện nay nguy cơ thất thoát các giống nội không lớn, vì các loại giống này do người nghèo ở nông thôn nuôi giữ, họ sẽ không thay đổi ngay tức khắc cách sản xuất của họ từ bỏ giống của họ. Tuy nhiên, tình hình này có thể thay đổi mỗi khi người nghèo hoặc hội nhập vào chuỗi thị trường thế giới hoặc rời bỏ ngành chăn nuôi. Trong thế kỷ 20, việc nghiên cứu và phát triển trong ngành chăn nuôi thương mại đã tập trung vào một số ít giống ngoại và đã thực hiện được việc nhanh chóng tăng mức sản xuất thịt, trứng, sữa. Chỉ với 14 trong số gần 30 loài gia súc có vú và gia cầm hiện nay đã cung cấp cho nhân loại 90% thực phẩm. Trong khi sản xuất tăng thì số lượng các giống giảm một cách rõ rệt, việc hao mòn TNDT ĐV bản địa diễn ra cùng một lúc với thâm canh sử dụng các giống năng suất cao.
Những hệ thống sản xuất nuôi giữ nhiều giống năng suất cao là những hệ thống ít đất dành cho các loài vật dạ dày đơn, còn vùng trung du nhiệt đới dành cho bò sữa. Chăn nuôi súc vật nhai lại nhỏ (dê, cừu) ít đất, sử dụng giống bản địa cải tiến (Groenewold, 2004). Giống bò sữa cao sản và con lai của nó nuôi ở các miền ôn đới và cao nguyên nhiệt đới chiếm 40% giống bò sữa và sản xuất ra 67% sữa toàn cầu.
Chăn nuôi gia súc dạ dày đơn, chủ yếu là lợn và gia cầm, càng ngày càng đi vào sản xuất theo quy mô lớn, thâm canh, đã thể hiện được tính hiệu quả của quy mô sản xuất và bảo đảm được các điều kiện về an toàn sinh học. Trong những điều kiện như vậy chỉ một số ít giống, chủ yếu là giống ngoại phát huy được hiệu quả kinh tế còn các giống nội không thích hợp. Phần lớn súc vật nhai lại nhỏ (dê, cừu) chăn thả trên đồng cỏ, sử dụng giống bản địa hoặc giống lai cải tiến. Gia súc lớn nuôi theo hệ thống đồng cỏ tự nhiên hoặc đồng cỏ trồng vừa tận dụng nước trời vừa tưới tiêu thích hợp cho cả chăn nuôi bò thịt thâm canh và bò sữa. Tuy nhiên, trong chăn nuôi ít thâm canh, những đặc diểm như khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt, năng lực cày kéo, hoặc ngoại hình đẹp vẫn giữ làm mục tiêu chọn giống thứ yếu.
Toàn cầu hoá thị trường chăn nuôi để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của dân chúng đô thị và các nước đã phát triển, nhiều phương tiện vận chuyển giá rẻ và nhanh có lẽ là những yếu tố bao quát duy nhất tác động đến TNDT ĐV. Trong 3 thập kỷ vừa qua, người ta nhận thấy có sự tăng cường về mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Phần lớn yêu cầu sản phẩm gia tăng được đáp ứng bởi hệ thống sản xuất thâm canh phân bổ ở những địa bàn gần hải cảng hoặc thị trường thành phố, nuôi một số ít giống hoặc loài năng suất cao. Mức tăng trưởng của thị trường đã khởi động động lực đầu tư nghiên cứu về giống (Nanod và Fugle, 2000). Người dân phong lưu, dân thành phố, các cửa hàng bán lẻ lớn yêu cầu có mức độ một số sản phẩm đặc biệt, yêu cầu chất lượng sản phẩm, yêu cầu của họ thay đổi thường xuyên. Để đáp ứng những yêu cầu trên, những người sản xuất tìm cách thay đổi giống hoặc loài có khả năng linh hoạt và thích ứng nhanh, hơn là sử dụng các biến thể.
Khi sức ép về đất đai gia tăng, chăn nuôi đi theo hướng thâm canh, người chăn nuôi nghèo có khuynh hướng ngả theo con lai vì chúng cho họ thu nhập cao hơn. Mỗi khi ngành thương mại chuyên nghiệp đã nắm được một phần thị trường nội địa thì cạnh tranh thị trường có thể gây tác động đe doạ gián tiếp đối với TNDT ĐV bản địa. Trợ giá thịt nhập khẩu cũng có tác động nhất định. Trong trường hợp này, nếu các hộ chăn nuôi đưa sản phẩm của những giống vật nuôi năng suất thấp ra thị trường thì sinh kế của họ sẽ bị đe doạ, và nếu họ muốn vẫn cứ duy trì sản xuất thì nuôi giống bản địa về lâu dài sẽ không kinh tế (Tisdeld, 2003).
Công nghệ sinh học đã làm cho vật liệu di truyền đa dạng hơn gồm có tinh dịch, phôi, noãn, tế bào soma, DNA. Việc vận chuyển và mua bán vật liệu di truyền cũng đã được cải thiện. Bắt đầu từ 1960 các nước đang phát triển mở rộng sử dụng thụ tinh nhân tạo, chủ yếu trong chăn nuôi bò sữa và chủ yếu nhập tinh dịch của vài giống bò. Sự tiện lợi của công nghệ sinh sản được tận dụng một cách tối đa (tinh, phôi đông lạnh) trong chăn nuôi bò sữa còn trong chăn nuôi lợn (chủ yếu sử dụng tinh lỏng của cơ sở giống thương mại)và chăn nuôi gia cầm ít hơn (Hiemstra và những người cộng tác, 2005).
Năng suất sinh sản, tính cơ động và chi phí vận chuyển sản phẩm giống, chi phí về chăn nuôi gia súc giống hối thúc sự tích tụ trong chăn nuôi công nghiệp. Lấy châu Âu làm ví dụ, khoảng 1/2 lợn giống nằm trong tay các Hiệp hội hoặc các công ty cổ phần, 1/2 còn lại nằm trong tay các công ty tư nhân, thị phần của các công ty giống quốc tế cũng đang mở rộng (Preisinger, 2004). Về giống gia cầm, vì giá trị của con giống đơn lẻ thấp, do năng suất sinh sản cao, do tính cơ động của trứng và gà con 1 ngày tuổi nên tích tụ rất cao, tất cả đều là xí nghiệp tư nhân. Cách đây 50 năm, ở mỗi nước Tây Âu lúc đầu có hàng trăm chủ trại giống... Ngày nay, 3 tập đoàn giống hàng đầu thống trị thị trường quốc tế về gà đẻ trứng, còn gà thịt, 4 đấu thủ chính bao quát khắp thế giới (Flock và Preisinger, 2005).
Tăng trưởng kinh tế khuyến khích hệ thống thâm canh và giảm sử dụng các động vật bản địa. Lấy chiều hướng ở Liên minh châu Âu làm ví dụ, ở đây một vài giống vật hiếm do sở thích mà một số chủ trang trại nuôi để duy trì tính đa dạng di truyền hoặc do một số chợ đầu mối lưu giữ, sự thể này cho thấy cùng với tăng trưởng kinh tế chức năng bảo đảm an ninh thực phẩm của các giống bản địa suy giảm dần. Tuy nhiên, không thể xem nhẹ sự đóng góp quan trọng của các giống bản địa đối với vấn đề an ninh thực phẩm của các hộ dân ở các nước đang phát triển, nhất là vùng nông thôn. Vì lí do này mà không dại gì để cho những giống vật này thất thoát quá nhanh. Từ khi tác động đối với tiêu chủan an ninh thực phẩm của người nghèo đã được phân tích gần đây (FAO, 2004) chưa hề có cuộc đánh giá nào về phương thức đề cao khả năng an ninh thực phẩm của những hệ thống chăn nuôi giống bản địa. Có một số tài nguyên di truyền động vật có giá trị và thú vị nhất đang được cộng đồng người dân tộc lưu giữ. Không lâu nữa, giới trẻ của những tộc người này sẽ lôi cuốn vào nếp sống tập trung và thích di cư ra thành phố làm thuê nên những kiến thức bản địa của họ bị xói mòn dần (Kohler - Rouefson - 2005).
Đánh giá các yêu cầu
Trong quá trình phân tích báo cáo của các nước về tình trạng TNDT ĐV đệ trình lên FAO nhận thấy có 4 lĩnh vực hành động chính thức cấp độ quốc gia cấp độ quốc tế.
- Các chính sách quốc gia, sự triển khai thể chế và năng lực xây dựng các chương trình quốc gia đủ mạnh về TNDT ĐV, sự ủng hộ của quốc tế cũng như của khu vực giúp đỡ các nước đang phát triển xây dựng năng lực của họ.
- Tăng cường kiểm kê và quản lý để tăng sự hiểu biết về TNDT ĐV và tạo sự hiểu biết sâu hơn về những đặc điểm của đa dạng động vật.
- Nhận dạng các giống vật nuôi có nguy cơ bị tuyệt chủng, triển khai và quản lý các biện pháp bảo vệ có hiệu quả để bảo đảm duy trì đa dạng di truyền.
- Tăng cường năng lực sử dụng và phát triển TNDT ĐV bằng cách kết hợp các cách tiếp cận cổ truyền với cách tiếp cận và công nghệ hiện đại trong mọi lĩnh vực của các hệ thống sản xuất sẵn có.
Các chính sách ảnh hưởng đến đa dạng di truyền
Qua phân tích báo cáo của các quốc gia đệ trình lên FAO cho thấy, các chính sách của các nước đều ưu tiên các hệ thống sản xuất thâm canh hoặc sử dụng nền di truyền hẹp, ở những quốc gia thiếu thực phẩm, thâm canh và hiện đại hoá ngành chăn nuôi là mục tiêu hàng đầu của chính sách. Các chính sách thâm canh nhằm vào chăn nuôi bò và gia cầm (các nước Tây và Nam Phi) hoặc lợn và gia cầm (các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc). Đi kèm theo các hệ thống sản xuất đó là yêu cầu nhập đàn giống đầu vào, đầu ra cao và các vật liệu di truyền. Có một số trường hợp đã nhập khẩu toàn bộ hệ thống sản xuất như trường hợp nhập dây chuyền gà đẻ ở Ả rập - Xếut.
Cạnh tranh kinh tế ngày càng tăng cùng với các hạn chế về môi trường xuất hiện khuynh hướng chuyển hệ thống sản xuất thâm canh, nhất là chăn nuôi súc vật dạ dày đơn đến những nước mà ở đó luật môi trường không quá khắt khe, có sẵn đất đai, công nghệ sản xuất và thức ăn (Porman và những người cộng tác, 2004).
Những lo lắng về môi trường cũng có thể thay đổi cơ cấu ở các nước. Ở Malaysia do đô thị hoá nhanh, do yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất, do yêu cầu bảo vệ môi trường và vệ sinh mà vùng trang trại chăn nuôi gia cầm hiện nay sẽ chuyển đi xa hơn. Ở một số nước Đông và Nam Phi việc xuất hiện các giống cải tiến gắn liền với đồn điền tư nhân (Bester và những người cộng tác, 2003).
Thiếu sự hỗ trợ thị trường nội địa về cơ sở hạ tầng cũng là mối đe doạ đối với TNDT ĐV bản địa. Quy mô lớn và không gian giao tiếp giữa các trang trại tốt hơn, đặc biệt là đối với những trang trại vùng ngoại đô cho phép họ nắm được thị phần lớn, trong lúc đó, những trang trại nghèo ở làng bản xa phần lớn nuôi các gia súc nội địa lại khó thâm nhập thị trường (IDL, 2002). Thị trường và các quy định về vệ sinh có thể ngăn cản không cho các giống vật nuôi bản địa tiếp xúc với thị trường. Hệ thống phân cấp thịt gia súc thường ưu ái đối với giống ngoại có tầm vóc to. Sự thay đổi hệ thống phân loại bò theo tầm vóc và lứa tuổi (thịt của loại bò giết thịt trước lúc thay 2 răng cửa có giá trị cao nhất), ở Nam Phi đã tạo thị trường thuận lợi cho những giống nội địa, chậm thành thục (Ramsay).
Để tăng sản xuất cũng có lúc có những chính sách ủng hộ trực tiếp như trợ giá thức ăn (trợ giá hạt ngũ cốc nhập nội), thụ tinh nhân tạo và những đầu vào khác, những chính sách đó đi theo chiều hướng ưu đãi các giống ngoại, hoặc trợ giá gián tiếp cho đầu vào. Ví dụ, trợ giá nhiên liệu và phân bón sản xuất thức ăn tinh cần cho giống ngoại và các chủ trang trại có cơ sở hạ tầng thuận lợi (ILRI, 2005). Hình thức vay vốn và bảo hiểm, lạm phát, ưu đãi về ngoại hối cũng có tác dụng khuyến khích một số hệ thống sản xuất và do đó cả giống vật nuôi (de Han và những người cộng tác, 1998; Đelgao và Nanod, 2002). Có thể có sự ủng hộ gián tiếp, ví dụ Chính phủ hô hào dịch vụ thú y và các dịch vụ khác hướng vào vùng chăn nuôi tập trung, dẫn đến giảm dịch vụ ở những vùng xa.
Những hạn chế của chính phủ về hoạt động buôn bán chăn nuôi, kiểm soát dịch bệnh, kiểm soát buôn bán giống cũng tạo ra những ưu tiên cho một số hệ thống sản xuất và các giống có liên quan. Một số chính phủ yêu cầu đăng ký giống và đẩy mạnh thiến đực giống thuộc các giống bản địa (Bester và những người cộng tác, 2003). Các chính phủ trên cũng đã tác động đến việc sẵn có tinh dịch của một số giống bằng cách gián tiếp cho nhập và phân phối tinh hoặc gián tiếp bằng cách định giá tinh, lập các trạm thụ tinh nhân tạo hoặc liên kết việc bán các vật liệu di truyền và đàn giống với các chương trình an toàn dịch bệnh. Ở các nước đang phát triển không sẵn có tinh dịch của giống động vật bản địa. Ví dụ, ở Kenya các cơ sở dịch vụ công và tư chỉ cung cấp tinh dịch bò Friesian. Những giới hạn liên quan đến an toàn dịch bệnh đã ngăn cản không cho các nước phát triển xuất con giống vì đa số chúng không có trong danh sách sạch bệnh bảng A và bảng B của tổ chức OIC (tổ chức Thú y thế giới).
Cùng với việc hao mòn các giống, còn có nguy cơ tiềm ẩn mất sự đa dạng di truyền của các giống thương mại. Việc trao đổi vật liệu di truyền và mối liên kết về di truyền không phụ thuộc vào biên giới quốc gia. Việc toàn cầu hoá giống bò sữa đã cải thiện cường độ chọn lọc giống nhưng cũng làm tăng mối quan hệ giữa các con vật và do vậy tăng nguy cơ đồng huyết cùng với các vấn đề có liên quan (Mark và ctv, 2002).
Tăng mức đồng huyết là vấn đề chung của thế giới, vì vậy phải có hành động ở mức cao toàn cầu.
Khi xây dựng các chính sách về bảo vệ tài nguyên di truyền phảiphan định đối tượng ưu tiên là đa dạng giống hay biến đổi di truyền vì các mục tiêu này hoàn toàn không đồng đẳng. Quyết định này liên quan đến thực thi các phương pháp tạo và bảo tồn giống, liên quan đếm mô tả và đánh giá những đặc điểm cần thiết.
(còn tiếp)








