Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 12/01/2007 01:05 (GMT+7)

Thiền sư Thường Chiếu: người thúc đẩy sự hoà nhập ba dòng Thiền của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XIII

Phật giáo Việt Nam xuất hiện vào thế kỷ II sau công nguyên với sự hình thành trung tâm Phật giáo Giao Châu ở Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay). Vị Tổ thiền sư đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam ở Giao Châu là Khương Tăng Hội (1) xuất hiện vào thế kỷ II. Mãi đến thế kỷ thứ VI mới xuất hiện một thiền phái có tổ chức một cách hệ thống ở Việt Nam là thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chihay còn gọi là thiền phái Nam Phương, mà người đứng đầu là thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Ấn Độ từ Trung Hoa sang Việt Nam, đến tu ở chùa Pháp Vân (chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) vào năm 580. Đến thế kỷ thứ IX lại xuất hiện thiền phái thứ hai ở Việt Nam đó là thiền phái Vô Ngôn Thônghay còn gọi là thiền phái Quan Bích (2) mà người đứng đầu là thiền sư Vô Ngôn Thông cũng từ Trung Quốc sang Việt Nam đến tu ở chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Tiên du, Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội) vào năm 820. Hai thiền phái trên có nhiều thế hệ kế tiếp nhau cho đến hết đời Nhà Lý sang đầu đời Nhà Trần. Giữa thế kỷ thứ XI (cụ thể là vào năm 1069 đời vua Lý Thánh Tông) mới xuất hiện một thiền phái thứ ba là thiền phái Thảo Đường. Cả 3 thiền phái này tồn tại và phát triển đạo Phật ở Việt Nam qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý và đến khoảng giữa đời Nhà Trần. Mãi đến đầu thế kỷ XIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường mới dần dần nhập lại thành một và sau này trở thành một thiền phái duy nhất đời Trần. Sự sáp nhập của ba thiền phái trên đây đã đưa tới sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử Trúc Lâmdo ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Nhưng người có công đầu trong sự giao nhập ba thiền phái kể trên, phải kể đến vị thiền sư họ Phạm tên là Thường Chiếu. Ông là vị thiền sư thế hệ thứ 13 thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, là tác gia Hán Nôm họ Phạm đầu tiên trong lịch sử (3), là nhân tố đầu tiên đóng góp tạo nên sự thống nhất các thiền phái, đưa đến sự phát triển lớn của Thiền phái Yên Tử của nền Phật giáo thống nhất đời Trần.

Thường Chiếu (? - 1203) là người họ Phạm làng Phù Ninh (4) (tục gọi là làng Nành) thuộc Gia Lâm, Hà Nội. Cho đến nay vẫn chưa biết rõ Thường Chiếu là pháp danh nhà Phật hay là tên huý. Ông sinh ra trong thời Lý Anh Tông (1138-1175) và làm quan trong thời Lý Cao Tông (1175-1210) đến chức Lệnh Đô Tào ở cung Quảng Từ. Về sau ông bỏ quan để đi tu dưới sự hướng dẫn của thiền sư Quảng Nghiêm (? - 1190), vị tổ đời thứ 12 thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông (Quán Bích) ở chùa Tình Quả. Ông được tâm truyền của thiền sư Quảng Nghiêm đến khi vị thầy của ông viên tịch vào năm 1190, ông rời chùa Tịnh Quả và lui về một ngôi chùa cổ ở phường Ông Mạc (tức phường Đống Mác, Hà Nội ngày nay).

Sau đó một thời gian, thiền sư Thường Chiếu dời sang chùa Lục Tổ ở hương Dịch Bảng nay là chùa Cổ Pháp xã Đình Bảng, vốn là một ngôi chùa rất cổ do thiền sư Định Không (? - 808) là vị tổ thuộc thế hệ thứ 8 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi xây dựng nên từ thế kỷ VIII.

Sự kiện Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông đến chùa Lục Tổ, một tổ đình lớn của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi mở trường dạy học để giáo hoá Phật pháp cho ta thấy xu hướng hoà nhập của các thiền phái đạo Phật ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII đời nhà Trần.

Ta biết rằng thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi xuất hiện ở Việt Nam từ cuối thế kỷ VI và phát triển đến thế kỷ XII (thời kỳ có thiền sư Thường Chiếu) đã được 18 thế hệ. Còn thiền sư Thường Chiếu thuộc thế hệ thứ 13 của dòng thiền Vô Ngôn Thông cũng là thời kỳ cuối trào. Do vậy những hoạt động của thiền sư Thường Chiếu trong giai đoạn này là bước khởi đầu cho sự hoà nhập các thiền phái đưa đến sự thống nhất của Phật giáo Việt Nam .

Thiền sư Thường Chiếu, người đã khơi mào cho việc hoà nhập ba dòng thiền, mở đầu cho sự thống nhất các thiền phái của Phật giáo Việt Nam, còn có công đào tạo ra một lớp đệ tử xuất sắc như thiền sư Hiện Quang (?-1221), vị tổ khai sơn phái Yên Tử; thiền sư Trần Nghi (?-1216), người đã truyền lại và tục biên tài liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam và thiền sư Thông Thiền (?-1228). Các vị thiền sư này đã có công gây dựng nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thống nhất mà ngoài Thường Chiếu là vị tổ khởi đầu ra thì vị tổ thứ nhất của hệ tổ Trúc lâm Yên Tử là thiên sư Hiện Quang. Hiện Quang truyền cho Đạo Viên còn có tên là Viên Chứng là vị tổ thứ hai (được vua Lê Thái Tông phong là Trúc Lâm Quốc sư), rồi đến thiền sư Đại Đăng là vị tổ thứ ba. Mãi đến khi Trần Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử năm 1299, lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà (sau này mới đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà) thì Trần Nhân Tông được ghi nhận là người truyền thừa chính thức thuộc thế hệ thứ sáu của phái Yên Tử và là vị tổ thứ nhất của Phật giáo Trúc Lâm. Từ đó trở đi thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và ngoài xã hội với Trúc Lâm Đầu Đà cùng với các vị đệ tử thiền sư kế tiếp là Pháp Loa và Huyền Quang trở thành Tam Tổ sáng lập ra Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm cho đến ngày nay.

Do giảng dạy Phật pháp tại một tổ đường lâu đời của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, nên thiền sư Thường Chiếu đã có điều kiện thu thập được nhiều tài liệu để bổ sung cho tập sử liệu về Phật giáo Việt Nam do thiền sư Thông Biện (?-1134), thế hệ thứ 9 phái Vô Ngôn Thông soạn thảo mà ông đã có trong tay. Sau này tập sử liệu đó trở thành sách Thiền Uyển Tập Anh, một cuốn sách ghi chép lịch sử đạo Phật Việt Nam thuộc các thiền phái khác nhau ở Việt Nam những thế kỷ trước.

Ngoài trình độ thông tuệ Phật pháp, Thường Chiếu thiền sư còn là người có công biên soạn sách. Những tài liệu của ông thu thập được từ thiền sư Thông Biện và được ông bổ sung đã làm nền tảng cho sách Thiền Uyển Tập Anhvà sau này tập tư liệu ấy còn được các vị thiền sư Thần Nghi và Ẩn Không là những đệ tử trực tiếp của ông đóng góp bổ sung đã trở thành sách Thiền Uyển Tập Anh. Như vậy có thể nói ông là một trong những tác giả của Thiền Uyển Tập Anh(5). Ngoài ra Thường Chiếu còn soạn thảo thêm một cuốn sách đặc biệt về sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam, đó là cuốn NamTông Tự Pháp Đồ(nay đã mất). Theo Lịch triều hiến chương loại chícủa Phan Huy Chú thì bộ Nam Tông Tự Tháp Đồcủa Thường Chiếu có bài tựa của Trạng nguyên Lương Thế Vinh, trong đó có ghi rằng Thường Chiếu còn là tác giả của sách Thích Đạo Giáo Khoa.

Trong thời gian hoằng dương Phật pháp ở chùa Lục Tổ, các môn đệ theo học ông ngày càng đông. Thiền sư tìm mọi cách để truyền lại cho các đệ tử thấu hiểu thâm sâu giáo lý. Có lần sau khi giảng giải Phật pháp xong, để cho môn đệ giác ngộ thêm, ông đọc bài kệ sau:

Tại thế bị nhân thân / Tâm vi Như Lai tạng / Chiếu diệu thả vô phương / Tầm chi cánh nguyệt khoáng.

Dịch:

Ở thế là nhân thân / Tâm là Như Lai tạng / Chiếu dọi khắp muôn phương / Nếu tìm không thấy bóng.

Thiền sư Thường Chiếu là người dày công xây dựng sự hoà nhập giữa ba dòng thiền chính của Phật giáo Việt Nam, khởi đầu cho sự hình thành thống nhất của Phật giáo Việt Nam đi đến một thiền phái thống nhất Trúc Lâm Yên Tử.

Trước khi qua đời, ông đọc một bài kệ biểu lộ phong thái của người đã giải thoát, cho ta thấy rằng thế giới thực hữu kia đâu đâu và bao giờ cũng là quê hương mình:

Đạo bản vô nhan sắc / Tân tiên nhật nhật khoa / Đại thiên sa giới ngoại / Hà xứ bất vi gia?

(Đạo vốn không nhan sắc / Mà ngày càng gấm hoa / Trong ba ngàn cõi ấy / Đâu chẳng phải là nhà?)

Thường Chiếu, vị thiền sư họ Phạm, người có công góp phần thống nhất các thiền phái của Phật giáo Việt Nam hồi thế kỷ XII và XIII, một tác gia Hán Nôm đầu tiên của họ Phạm viên tịch ngày 24 tháng 9 năm Quý Hợi tức là ngày 22 tháng 10 năm 1203.

_____________

(1) Khương Tăng Hội, thiền sư Việt Nam đầu thế kỷ thứ III. Chà là người xứ Khương Cư phái Bắc Ấn Độ, mẹ người Việt. Lên 10 tuổi cha mẹ chết, ông xuất gia hành đạo tại Luy Lâu, thủ phủ Giao Châu (Việt Nam), sau đó sang Đông Ngô (Trung Quốc) giảng đạo. Thiền sư Tăng Hội là người viết bài tựa kinh An Ban Thủ ýPhương Pháp Đạt Thiền.

(2) Vô Ngôn Thông, người Quảng Châu, họ Trịnh. Ông sang Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, khi đó thuộc Tiên Du, Bắc Ninh… Ngoài hai bữa cơm cháo, ông dành hết thì giờ vào việc toạ thiền, quay mặt vào vách, không nói năng gì. Vì thế dòng thiền này còn có tên là Quán Bích.

(3) Dòng thiền Vô Ngôn Thông còn có hai thiền sư người họ Phạm. Đó là thiền sư Minh Tâm (?-1034) thuộc thế hệ thứ 8, người huyện Chu Minh và thiền sư Trường Nguyên (1110-1165) người huyện Tiên Du Bắc Ninh. Nhưng cả hai thiền sư này không để lại tác phẩm Hán Nôm nào.

(4) Về quê hương của Thường Chiếu, Từ điển nhân vật lịch sửcủa Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế ghi là làng Phù Ninh (tục gọi làng Nành) thuộc tỉnh Phú Thọ. Sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang chỉ ghi là người làng Phù Ninh, không ghi rõ tỉnh nào. Sách Thiền Uyển Tập Anhghi là hương Phù Ninh, nay là xã Phù Ninh huyện Gia Lâm. Tra Danh mục các làng xã Bắc Kỳ(Nomenclature des communes (du Tonkin) của Ngô Vi Liễn trong sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ(NXB VHTT.1999) thì Phù Ninh là tên làng Phù Ninh, tổng Tử Đà, huyện Phù Ninh, Phú Thọ và cũng là tên làng Phù Ninh thuộc tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh nay là thôn Phù Ninh xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm, Hà Nội.

5. Về tác giả của Thiền Uyển Tập Anh, nhiều nhà nghiên cứu đều có xu hướng thống nhất là có nhiều thế hệ của thiền phái Vô Ngôn Thông góp phần biên soạn liên tục, nhưng chủ yếu là các vị thiền sư Thông Biện, Thường Chiếu, Thần Nghi và Ân Không.

Nguồn: Xưa và Nay, số 271, 11/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.