Tâm trương
Khoảng những thập niên cuối thế kỷ trước, nhiều hội những người cao huyết áp được chuyên khoa y học nghiên cứu về thống kê kết luận là cao huyết áp tâm trương đưa đến suy tim tâm trương(xem đoạn kế) và tỷ lệ tử vong cao bằng các trường hợp suy tim khác.
Tháng 12 – 1998, qua một công trình nghiên cứu của Pháp về điều trị cao huyết áp cho 19.000 bệnh nhân, có huyết áp tâm trương tối ưu là 82,6 mmHg, tức ở mức độ này tỷ lệ biến chứng về tim mạch là thấp nhất. Ở phương Tây, các hội khoa học về cao huyết áp có những cuộc họp thường kỳ và theo thông lệ có báo cáo kết quả về thống kê, theo đó con số của Pháp thấy dần dần sụt xuống. Việc đó dễ hiểu do cách sử dụng thuốc trong quá trình nghiên cứu có điều trị bệnh cao huyết áp nói chung.
Ở ta, chưa có công trình nghiên cứu đại trà nào có tầm vóc so sánh với xứ người, nhưng trong thực tiễn, kinh nghiệm cho phép kết luận số tâm trương tối ưu là dưới 80 mmHg.
Làm sao hạ?
- Nếu người bệnh có huyết áp tâm thu cũng cao thì khởi đầu chỉ dùng một phân tử của họ dihydropyrindin (1). Đây là những ức chế canxi chọn lọc của kênh canxi chậm, tác động chủ yếu giãn động mạch rất mạnh, không giảm hiệu năng co cơ tim và không làm tim đập chậm lại, ưu thế hơn tất cả các họ ức chế canxi khác.
- Nếu chỉ muốn hạ huyết áp tâm trương thì dùng họ chẹn bêta tim chọn lọc (2).
Suy tim tâm trương
Y văn dùng từ này lần đầu tiên năm 1988 để mô tả một nhóm bệnh nhân suy tim mà chức năng tâm thu thất trái vẫn bình thường.
Đến nay, bệnh học biết khá rõ và có phác đồ điều trị.
Định nghĩa của chứng bệnh nói lên có sự tồn tại của 2 yếu tố: suy tim và chức năng tâm thu thất trái bình thường.
Suy tim: thí dụ một bệnh nhân cao huyết áp không triệu chứng lâm sàng; siêu âm cho biết dày thất trái và thư giãn thất rối loạn thì được chẩn đoán: “ Chức năng tâm trương bất thường”. Nếu suy tim, một hội chứng lâm sàng, xuất hiện ở bệnh nhân này thì có thể nghĩ đến “suy tim tâm trương”, nhưng…
Chức năng thất trái phải bình thường
Khoa siêu âm đo được phân suất tống máu là tham số trả lời điều kiện này: tuỳ tác giả, trên 45 hay 50% là bình thường.
Do đó, có trường phái không gọi là suy tim tâm trương,mà suy tim với phân suất tống máu bình thường.
Sinh lý bệnh: Có mấy yếu tố mà chuyên khoa sâu cần phân tích: như giãn tâm thu chậm; độ giãn tâm trương giảm đưa đến thất trái giảm được châm đầy, từ đó áp suất về phía thượng lưu tuần hoàn hô hấp tăng và chung cục giảm lưu lượng tim. Nói chung là 3 hợp phần của châm đầy thất trái.
Tại sao đặt vấn đề ở bệnh lý nội khoa?
Do máy tự động ghi “tâm trương cao” mà người sử dụng vô tư vẫn yên tâm mình vẫn có huyết áp bình thường; vì do thói quen chỉ lưu ý ở số tâm thu.
Chú thích:
1) Dihydropyridin: họ ức chế canxi này gồm có:
Amlodipine: Amlor, Amlopres
Felodipine: Flodil LP, Logimax (có trộn chung với chẹn bêta)
Isradipine: Icaz LP
Lacidipine: caldine
2) Chẹn bêta tim chọn lọc
Acebutolol: Sectral, Lopressor, Seloken, Motoprolol, Logroton (có trộn với lợi tiểu thiazidic)
Nebivolol: Nebilox, Temerit
Celiprolol: celectol
Antenolol: Tenormine, Betatop, Tenoretic (có trộn với lợi tiểu )
Betaxolo: Kerlone
Bisoprolol: Detensiel, Cardensiel, Cardiocor, Concor, Lodoz va Wytens đều có trộn lợi tiểu.








