Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 11/12/2012 19:44 (GMT+7)

Tài chính cho NCKH: Khó khăn cần tháo gỡ

Có kinh nghiệm nào của nước ngoài không?

Vấn đề tài chính cho NCKH giải quyết không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia và các tổ chức tài trợ ngước ngoài. Tôi xin kể vài kinh nghiệm của bản thân qua các dự án đã làm việc với các tổ chức tài trợ nước ngoài. Chẳng hạn:

- UNESCO tài trợ cho tôi mười mấy ngàn USD để tổ chức một hội thảo khoa học khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về “Comercialisation of R&D Outputs”, thì tôi chỉ cần ký trong một bản hợp đồng, với các khoản mục chi tiêu đã được phê duyệt, và sau đó, là biên bản kết thúc hội thảo là xong. Chứng từ và thủ tục tài chính là do tài vụ cơ quan lo theo các quy định và yêu cầu của phía Việt Nam, tôi không phải bàn giao chứng từ cho UNESCO.

- Với SAREC của Thụy Điển, thì tôi chỉ cần nộp một bản kê khai chi tiêu theo đúng các khoản mục đã được phê duyệt trong hồ sơ của Dự án, có chữ ký xác nhận của kế toán trưởng của cơ quan.

- Với các tổ chức tài trợ của Đức thì tôi phải nộp toàn bộ bản gốc các hóa đơn, chứng từ đúng với các khoản mục đã được phê duyệt trong hồ sư của Dự án và bị kiểm toán của phía bạn kiểm soát chặt chẽ

- Trong khi đó, thì theo những thông tin thu thập được qua nghiên cứu, tôi biết được các tổ chức R&D của nhiều nước được hưởng quy chế miễn trừ kiểm toán..
Với những thực tế đã trải qua đó, tôi cho rằng khó có thể lấy một kiểu mẫu nước ngoài nào để đề xuất một phương án kiểm soát tài chính cho các hoạt động R&D của nước ta.

Nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn về chế độ tài chính?


Nguyên nhân cơ bản dẫn đến các khó khăn trong chế độ tài chính, theo tôi, có lẽ là do chưa có được sự đối thoại thật sự hiểu biết lẫn nhau giữa giới quản lý tài chính với giới quản lý khoa học và bản thân những người làm khoa học, cụ thể là giữa Bộ KH&CN với Bộ Tài chính cùng với những người trực tiếp thực hiện công việc NCKH.

Tất cả các nhà nước trong thế giới đương đại đều là những nhà tài trợ hào hiệp cho khoa học bằng cách xét cung cấp tài trợ cho các đề xuất nghiên cứu, và rất hạn chế tự mình chủ trì các chương trình đề tài “của” nhà nước và cho các nhà khoa học “đấu thầu”.

Thật ra, trong những năm gần đây, Bộ KH&CN đã có những cố gắng rất lớn trong việc mở ra các diễn đàn về tài chính để giới nghiên cứu có cơ hội trình bày những khó khăn về tài chính với giới quản lý tài chính. Kết quả thảo luận cũng đã góp được phần nào vào việc cải thiện chế độ tài chính hiện hành trong hoạt động R&D, nhưng những vướng mắc về tài chính trong hoạt động R&D vẫn còn là một trở ngại quá lớn cho hoạt động NCKH ở nước ta.

Vậy, những khó khăn về chế độ tài chính trong NCKH tồn tại là do những nguyên nhân nào?

Có lẽ nguyên nhân cơ bản là giới khoa học chưa làm cho giới quản lý tài chính hiểu được đặc điểm cơ bản của hoạt động NCKH và nhất là đặc điểm về chính sách tài chính cho loại hoạt động này. Những đặc điểm đó được nhiều đồng nghiệp thảo luận trên các diễn đàn khoa học, cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Tôi xin nhắc lại một số đặc điểm đó như sau:

Trước hết, nhà nước dành cho hoạt động KH&CN quyền tự trị, các nhà nước vốn là nhà nước XHCN trước đây, đang chuyển từ một mô hình “nhà nước làm KH&CN” sang một mô hình “nhà nước quản lý vĩ mô về KH&CN”. “Nhà nước làm khoa học” là cách gọi mà tôi sử dụng để gọi tên các nhà nước XHCN đối xử với khoa học theo mô hình của Liên Xô, trong đó nhà nước phát ra các chương trình, đề tài “của” nhà nước các cấp và mời các nhà khoa học đến đấu thầu. Sau khi kết thúc đề tài thì nhà nước “nghiệm thu”, và … chẳng để làm gì cả, mặc dầu nhà nước cũng lại đưa ra kế hoạch áp dụng các kết quả đó vào sản xuất và đời sống một cách rất hình thức chủ nghĩa.

Thứ hai, cần phải nói rằng, tất cả các nhà nước trong thế giới đương đại đều là những nhà tài trợ hào hiệp cho khoa học bằng cách xét cung cấp tài trợ cho các đề xuất nghiên cứu, và rất hạn chế tự mình chủ trì các chương trình đề tài “của” nhà nước và cho các nhà khoa học “đấu thầu”.

Một vị giáo sư viện trưởng một viện lớn (hiện đương nhiệm) trong một hội thảo tại Bộ KH&CN đã có bản tham luận thú vị, kêu gọi “hãy từ bỏ quản lý khoa học” (?) Vị viện trưởng này đã hiểu khái niệm “quản lý khoa học” như nó đã và đang tồn tại ở Việt Nam theo mô hình “nhà nước làm khoa học” của Liên Xô. Đúng ra phải nói rằng, chúng ta hãy từ bỏ mô hình quản lý khoa học theo kiểu “nhà nước làm khoa học” của Liên Xô để tạo lập mô hình “nhà nước quản lý vĩ mô về khoa học”, một mô hình phổ biến của các nền khoa học lành mạnh trong thế giới đương đại.

Hoàn toàn có thể nghiên cứu một hình thức khoán gọn nào đó cho từng khoản mục trong nghiên cứu, và có những quy định phù hợp với đặc điểm về tính mới, tính rủi ro của nghiên cứu khoa học.

Với mô hình “nhà nước quản lý vĩ mô về khoa học”, hơn nữa đảm bảo cho khoa học được phát triển theo một thiết chế tự trị (autonomous institution), thì vấn đề tài chính sẽ được giải quyết.

Thứ ba, trong việc cấp phát và kiểm soát tài chính, các nhà nước đều xét đến các đặc điểm của hoạt động NCKH, trong đó chủ yếu là những đặc điểm sau:

- Tính mới, làm cho người nghiên cứu không thể lập “kế hoạch” đưa ra các sản phẩm nào đó của nghiên cứu một cách quá chặt chẽ, như kiểm toán yêu cầu “chi đúng khoản mục”, “chi đúng kế hoạch”… và “chi đúng dự toán”, bởi vì công việc nghiên cứu luôn mang tính mới.

- Tính rủi ro, cũng là một đặc điểm quan trọng của công việc nghiên cứu. Rủi ro dẫn đến những thất bại trong nghiên cứu, phải lặp lại công việc khảo sát và thực nghiệm với số lần ngoài dự kiến, và điều này dẫn đến phá sản các kế hoạch tài chính theo dự toán.

- Tính phi kinh tế thể hiện trong tất cả các giai đoạn của công việc nghiên cứu, từ nghiên cứu cơ bản (fundamental research), nghiên cứu ứng dụng (applied research) và triển khai thực nghiệm (experimental development) 1. Tất cả các giai đoạn này đều không trực tiếp sinh lời. Cho nên giao chỉ tiêu quy định số % “thu hồi” là không phù hợp với đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học. Ở các cơ sở thực nghiệm nước ngoài, khoản bán sản phẩm chế thử trong giai đoạn “Triển khai” được giữ lại để tái đầu tư cho nghiên cứu.

Cuối cùng, Hoàn toàn có thể nghiên cứu một hình thức khoán gọn nào đó cho từng khoản mục trong nghiên cứu, và có những quy định phù hợp với đặc điểm về tính mới, tính rủi ro của nghiên cứu khoa học.

Mô hình quản lý vĩ mô nào về KH&CN trong nền kinh tế thị trường?


Trong lịch sử phát triển KH&CN của thế giới đã và đang tồn tại 3 triết lý tổ chức KH&CN và giáo dục (KH&GD):

Triết lý 1: KH&GD là mối quan tâm tư nhân, các nhà nước không quan tâm. Mô hình này kéo dài từ nền khoa học cổ đại cho đến hầu như suốt xã hội công nghiệp.

Triết lý 2: Các nhà nước nhận cho mình sứ mệnh lãnh đạo sự phát triển KH&GD của đất nước. Nhà nước lập ra các viện “của” nhà nước, giao cho các viện kế hoạch nghiên cứu và áp dụng kế hoạch nghiên cứu. Nhà nước biến mình thành ông chủ duy nhất làm KH&GD trong xã hội. Đó là các “nhà nước làm KH&GD” đầy quyền lực và quan liêu trong các nước XHCN. Kết quả, như lịch sử KH&GD của thế giới đã và đang chứng kiến: Hệ thống quản lý KH&GD quan liêu, hầu như chưa có ngành KH&CN mới nào được khai sinh từ các nước trong hệ thống XHCN.

Triết lý 3: Các nhà nước nhận sứ mệnh quản lý vĩ mô trong một hệ thống KH&GD và hệ thống giáo dục tự trị.

Sau khi hệ thống XHCN bị sụp đổ , các nước vốn là quốc gia XHCN trước đây đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, và phù hợp với nó là một hệ thống khoa học và giáo dục tự trị. Hệ thống ấy đương nhiên sẽ làm xuất hiện thiết chế tự trị trong hệ thống tài chính.

Đó là vấn đề đặt trước các nhà nghiên cứu về các thiết chế quản lý vĩ mô, cả trong KH&GD, và cả trong hệ thống kinh tế và xã hội.

---

1Xin phân biệt “Experimental Development”, nói gọn là Development trong cụm từ viết tắt R&D. Ông Tạ Quang Bửu đặt tên tiếng Việt là giai đoạn “Triển khai” của nghiên cứu, nó bao gồm “Làm prototype”, “Làm pilot” và “Làm thử série No0”, khác hoàn toàn với “Technology Development”. Chính hoạt động này mới nên dịch tiếng Việt là “Phát triển công nghệ” là hoạt động sau nghiên cứu, bao gồm “Extensive Development of Technology” (tức Diffusion of Technology) và “Intensive Development of Technology” (tức Upgrading of Technology). Luật KH&CN đã định nghĩa sai các khái niệm này.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.