Tác dụng trị liệu dây VII ngoại vi do lạnh trên lâm sàng bằng điện châm kết hợp với thuốc nam
Trong y học hiện đại và y học cổ truyền, các phương pháp trị liệt dây VII ngoại vi là hết sức phong phú, đặc biệt về phương diện châm cứu. Tuy nhiên, nhiều khi hiệu quả điều trị vẫn chưa ổn định, di chứng còn nhiều, kỹ thuật tiến hành còn khá phức tạp nên khó phổ cập...
Bởi vậy, chúng tôi tiến hành công trình nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát và đánh giá hiệu quả của một quy trình điều trị dùng phối hợp điện châm và thuốc nam để góp phần nâng cao chất lượng trị liệu căn bệnh này.
* Phương pháp điều trị
Điện châm:
- Công thức huyệt: Toản trúc, tình minh, dương bạch, thái dương, giáp xa, quyền liêu, nghinh hương, địa thương, ế phong, nhân trung, hợp cốc (đối diện), thừa tương, phong trì, túc tam lý.
- Cách châm: Bệnh mới thuộc thực chứng dùng tả pháp và châm nông, bệnh cũ đã có di chứng dùng bổ pháp và châm sâu xuyên huyệt: toản trúc xuyên tình minh, địa thương xuyên giáp xa, giáp xa xuyên địa thương, nghinh hương xuyên địa thương. Máy điện châm do Viện châm cứu Việt Nam sản xuất. Dùng xung điện hình sin, cường độ tuỳ từng bệnh nhân sao cho khi thông điện cảm thấy dễ chịu là được, tần số 60 lần trong một phút, lưu kinh 20 phút, mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần châm 10 huyệt. Mỗi zắc có hai đầu ra mắc với hai kim thành từng cặp: toản trúc với thái dương, địa thương với giáp xa, nghinh hương với hợp cốc.
Thuốc nam
- Đơn thuốc:
Ké đầu ngựa 12g Tang ký sinh 12g Quế chi 8g Bạch chỉ 8g Kê huyết đằng 12g | Ngưu tất 12g Uất kim 8g Trần bì 8g Hương phụ 8g Xuyên khung 8g |
- Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày một thang, mỗi thang sắc 3 lần, mỗi lần đổ 500ml nước sắc cô còn 150ml, uống ấm sau bữa ăn 30 phút.
* Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá mức độ liệt
Theo dõi các triệu chứng lâm sàng như: Miệng méo, mắt nhắm không kín, nhân trung lệch, nếp nhăn trán và rãnh mũi má mờ hoặc mất, ăn cơm đọng bên má liệt, uống nước chảy ra mép miệng, không thổi lửa và huýt sáo được, chảy nước mắt, ù tai, mất cảm giác vị giác 2/3 trước lưỡi. Lập phiếu theo dõi cho từng bệnh nhân.
Tình trạng liệt được đánh giá theo 3 mức: nhẹ, vừa và nặng.
- Nhẹ: miệng hơi méo, nhân trung hơi lệch, các nếp nhăn và rãnh mũi má hơi mờ, mắt nhắm hở < 1mm, bên liệt ăn uống được, cơm không đọng, nước không chảy ra, thổi lửa và huýt sáo được tuy hơi khó, không chảy nước mắt, không ù tai và rối loạn vị giác.
- Vừa: miệng méo, nhân trung lệch rõ, các nếp nhăn và rãnh mũi má mờ, mắt nhắm hở từ 1-2mm, bên liệt ăn uống được nhưng hơi khó, uống nước chảy ra ít, không thổi lửa và huýt sáo được, chảy nước mắt, không ù tai và rối loạn vị giác.
- Nặng: miệng méo xệch, các nếp nhăn và rãnh mũi má mất, nhân trung lệch nhiều, mắt nhắm mở > 2mm, bên liệt không ăn được, cơm đọng và nước chảy ra nhiều, ù tai và giảm hoặc mất vị giác 2/3 trước lưỡi bên liệt.
* Chỉ tiêu đánh giá kết quả
Kết quả điều trị được đánh giá theo 4 mức: khỏi, đỡ nhiều, đỡ ít, và không đỡ.
- Khỏi (loại A): hết hoàn toàn các triệu chứng, bên liệt trở lại bình thường.
- Đỡ nhiều (loại B): mắt nhắm kín (Charles-Bell âm tính), miệng chỉ hơi méo và nhân trung hơi lệch khi cười và nói, ăn uống bình thường, thỉnh thoảng chảy nước mắt và tê mặt, các triệu chứng khác hồi phục hoàn toàn.
- Đỡ ít (loại C): mắt nhắm còn hở ít, miệng đỡ méo, nhân trung đỡ lệch, các nếp nhăn trán và rãnh mũi má xuất hiện nhưng chưa trở lại bình thường, má đỡ xệ, khi ăn còn đọng một ít thức ăn ở má, chưa thổi lửa và huýt sáo được, nghe bình thường nhưng còn ù tai.
- Không đỡ (loại D): bệnh như cũ, không có chút tiến bộ nào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, liệt dây VII ngoại vi do lạnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ tuỳ theo đặc điểm của từng đơn vị y tế, thông thường ở các cơ sở quân y tỷ lệ nam giới bị bệnh cao hơn, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là 58,1%.
Người bệnh thường đến trong tuần đầu của bệnh (53,5%) và tỷ lệ có tuổi bệnh 3 tuần là cao nhất (78,7%). Tuổi bệnh càng ngắn thì kết quả điều trị càng tốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả trị liệu 34 bệnh nhân có tuổi bệnh dưới 3 tuần đạt loại A là 20 ca (58,8%), loại B là 9 ca (26,5%) và loại C là 5 ca (14,7%). Trong khi đó, 9 ca còn lại có tuổi bệnh từ 4 tuần trở lên thì chỉ có 4 ca đạt loại B (44,4%) và 5 ca đạt loại C (55,6%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,05. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả: bệnh nhân đến trước 1 tháng thì khả năng hồi phục hoàn toàn nhiều hơn, nếu sau 1 tháng thì kết quả hạn chế nhiều.
Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào mức độ liệt, liệt nhẹ thường khỏi nhanh và ít để lại di chứng; liệt nặng thì tiến triển chậm, thời gian trị liệu kéo dài và hay để lại nhiều di chứng. Trong nghiên cứu của chúng tôi. 5 bệnh nhân ở mức độ vừa có 3 ca khỏi (60T) và 2 ca đỡ nhiều (40%); 38 bệnh nhân ở mức độ nặng thì chỉ có 18 ca khỏi (47,4%), 11 ca đỡ nhiều (28,9%) và 9 ca đỡ ít (23,7%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,05.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
- Điều trị liệt dây VII ngoại vi do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp với thuốc nam đem lại kết quả tốt và an toàn.
- Phác đồ điều trị cụ thể như sau:
+ Công thức duyệt: Toản khúc, tình minh, dương bạch, thái dương, giáp xa, quyền liêu, nghinh hương, địa thương, ế phong, nhân trung, hợp cốc (đối diện), thừa tương, phong trì, túc tam lý.
+ Xung điện: Dùng xung điện hình sin, cường độ tuỳ từng bệnh nhân sao cho khi thông điện cảm thấy dễ chịu là được, tần số 60 lần trong một phút, lưu kim 20 phút, mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần châm 10 huyệt.
+ Đơn thuốc nam: Ké đầu ngựa 12g, ngưu tất 12g, tang ký sinh 12g, uất kim 8g, quế chi 8g, trần bì 8g, bạch chỉ 8g, hương phụ 8g, kê huyết đằng 12g, xuyên khung 8g. Cách dùng: sắc uống mỗi ngày 1 thang, mỗi thang sắc 3 lần, mỗi lần đổ 500ml nước sắc cô còn 150ml, uống ấm sau bữa ăn 30 phút.
Nguồn: T/c Đông y, số 349, 25/5/2003








