Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 08/09/2006 16:13 (GMT+7)

Tác dụng trị liệu dây VII ngoại vi do lạnh trên lâm sàng bằng điện châm kết hợp với thuốc nam

Trong y học hiện đại và y học cổ truyền, các phương pháp trị liệt dây VII ngoại vi là hết sức phong phú, đặc biệt về phương diện châm cứu. Tuy nhiên, nhiều khi hiệu quả điều trị vẫn chưa ổn định, di chứng còn nhiều, kỹ thuật tiến hành còn khá phức tạp nên khó phổ cập...

Bởi vậy, chúng tôi tiến hành công trình nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát và đánh giá hiệu quả của một quy trình điều trị dùng phối hợp điện châm và thuốc nam để góp phần nâng cao chất lượng trị liệu căn bệnh này.

* Phương pháp điều trị

Điện châm:

- Công thức huyệt: Toản trúc, tình minh, dương bạch, thái dương, giáp xa, quyền liêu, nghinh hương, địa thương, ế phong, nhân trung, hợp cốc (đối diện), thừa tương, phong trì, túc tam lý.

- Cách châm: Bệnh mới thuộc thực chứng dùng tả pháp và châm nông, bệnh cũ đã có di chứng dùng bổ pháp và châm sâu xuyên huyệt: toản trúc xuyên tình minh, địa thương xuyên giáp xa, giáp xa xuyên địa thương, nghinh hương xuyên địa thương. Máy điện châm do Viện châm cứu Việt Nam sản xuất. Dùng xung điện hình sin, cường độ tuỳ từng bệnh nhân sao cho khi thông điện cảm thấy dễ chịu là được, tần số 60 lần trong một phút, lưu kinh 20 phút, mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần châm 10 huyệt. Mỗi zắc có hai đầu ra mắc với hai kim thành từng cặp: toản trúc với thái dương, địa thương với giáp xa, nghinh hương với hợp cốc.

Thuốc nam

- Đơn thuốc:

Ké đầu ngựa 12g

Tang ký sinh 12g

Quế chi 8g

Bạch chỉ 8g

Kê huyết đằng 12g

Ngưu tất 12g

Uất kim 8g

Trần bì 8g

Hương phụ 8g

Xuyên khung 8g

- Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày một thang, mỗi thang sắc 3 lần, mỗi lần đổ 500ml nước sắc cô còn 150ml, uống ấm sau bữa ăn 30 phút.

* Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá mức độ liệt

Theo dõi các triệu chứng lâm sàng như: Miệng méo, mắt nhắm không kín, nhân trung lệch, nếp nhăn trán và rãnh mũi má mờ hoặc mất, ăn cơm đọng bên má liệt, uống nước chảy ra mép miệng, không thổi lửa và huýt sáo được, chảy nước mắt, ù tai, mất cảm giác vị giác 2/3 trước lưỡi. Lập phiếu theo dõi cho từng bệnh nhân.

Tình trạng liệt được đánh giá theo 3 mức: nhẹ, vừa và nặng.

- Nhẹ: miệng hơi méo, nhân trung hơi lệch, các nếp nhăn và rãnh mũi má hơi mờ, mắt nhắm hở < 1mm, bên liệt ăn uống được, cơm không đọng, nước không chảy ra, thổi lửa và huýt sáo được tuy hơi khó, không chảy nước mắt, không ù tai và rối loạn vị giác.

- Vừa: miệng méo, nhân trung lệch rõ, các nếp nhăn và rãnh mũi má mờ, mắt nhắm hở từ 1-2mm, bên liệt ăn uống được nhưng hơi khó, uống nước chảy ra ít, không thổi lửa và huýt sáo được, chảy nước mắt, không ù tai và rối loạn vị giác.

- Nặng: miệng méo xệch, các nếp nhăn và rãnh mũi má mất, nhân trung lệch nhiều, mắt nhắm mở > 2mm, bên liệt không ăn được, cơm đọng và nước chảy ra nhiều, ù tai và giảm hoặc mất vị giác 2/3 trước lưỡi bên liệt.

* Chỉ tiêu đánh giá kết quả

Kết quả điều trị được đánh giá theo 4 mức: khỏi, đỡ nhiều, đỡ ít, và không đỡ.

- Khỏi (loại A): hết hoàn toàn các triệu chứng, bên liệt trở lại bình thường.

- Đỡ nhiều (loại B): mắt nhắm kín (Charles-Bell âm tính), miệng chỉ hơi méo và nhân trung hơi lệch khi cười và nói, ăn uống bình thường, thỉnh thoảng chảy nước mắt và tê mặt, các triệu chứng khác hồi phục hoàn toàn.

- Đỡ ít (loại C): mắt nhắm còn hở ít, miệng đỡ méo, nhân trung đỡ lệch, các nếp nhăn trán và rãnh mũi má xuất hiện nhưng chưa trở lại bình thường, má đỡ xệ, khi ăn còn đọng một ít thức ăn ở má, chưa thổi lửa và huýt sáo được, nghe bình thường nhưng còn ù tai.

- Không đỡ (loại D): bệnh như cũ, không có chút tiến bộ nào.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, liệt dây VII ngoại vi do lạnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ tuỳ theo đặc điểm của từng đơn vị y tế, thông thường ở các cơ sở quân y tỷ lệ nam giới bị bệnh cao hơn, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là 58,1%.

Người bệnh thường đến trong tuần đầu của bệnh (53,5%) và tỷ lệ có tuổi bệnh 3 tuần là cao nhất (78,7%). Tuổi bệnh càng ngắn thì kết quả điều trị càng tốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả trị liệu 34 bệnh nhân có tuổi bệnh dưới 3 tuần đạt loại A là 20 ca (58,8%), loại B là 9 ca (26,5%) và loại C là 5 ca (14,7%). Trong khi đó, 9 ca còn lại có tuổi bệnh từ 4 tuần trở lên thì chỉ có 4 ca đạt loại B (44,4%) và 5 ca đạt loại C (55,6%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,05. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả: bệnh nhân đến trước 1 tháng thì khả năng hồi phục hoàn toàn nhiều hơn, nếu sau 1 tháng thì kết quả hạn chế nhiều.

Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào mức độ liệt, liệt nhẹ thường khỏi nhanh và ít để lại di chứng; liệt nặng thì tiến triển chậm, thời gian trị liệu kéo dài và hay để lại nhiều di chứng. Trong nghiên cứu của chúng tôi. 5 bệnh nhân ở mức độ vừa có 3 ca khỏi (60T) và 2 ca đỡ nhiều (40%); 38 bệnh nhân ở mức độ nặng thì chỉ có 18 ca khỏi (47,4%), 11 ca đỡ nhiều (28,9%) và 9 ca đỡ ít (23,7%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,05.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:

- Điều trị liệt dây VII ngoại vi do lạnh bằng phương pháp điện châm kết hợp với thuốc nam đem lại kết quả tốt và an toàn.

- Phác đồ điều trị cụ thể như sau:

+ Công thức duyệt: Toản khúc, tình minh, dương bạch, thái dương, giáp xa, quyền liêu, nghinh hương, địa thương, ế phong, nhân trung, hợp cốc (đối diện), thừa tương, phong trì, túc tam lý.

+ Xung điện: Dùng xung điện hình sin, cường độ tuỳ từng bệnh nhân sao cho khi thông điện cảm thấy dễ chịu là được, tần số 60 lần trong một phút, lưu kim 20 phút, mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần châm 10 huyệt.

+ Đơn thuốc nam: Ké đầu ngựa 12g, ngưu tất 12g, tang ký sinh 12g, uất kim 8g, quế chi 8g, trần bì 8g, bạch chỉ 8g, hương phụ 8g, kê huyết đằng 12g, xuyên khung 8g. Cách dùng: sắc uống mỗi ngày 1 thang, mỗi thang sắc 3 lần, mỗi lần đổ 500ml nước sắc cô còn 150ml, uống ấm sau bữa ăn 30 phút.

Nguồn: T/c Đông y, số 349, 25/5/2003

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.