Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 07/10/2010 19:24 (GMT+7)

Tác dụng tích cực và tiêu cực do phát triển thuỷ điện trên dòng sông MêKông

Tác động tích cực:

Nhìn chung, việc xây dựng và vận hành hệ thống các công trình thuỷ điện ở thượng nguồn có thể tác động tích cực là dòng chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ được điều tiết bởi các hồ chứa thuỷ điện, lượng nước mùa khô có thể tăng lên và giảm dòng chảy mùa lũ (có nghiên cứu dự báo tăng dòng chảy mùa khô khoảng 30%, giảm 6% diện tích xâm nhập mặn và giảm 5% đỉnh lũ). Tuy nhiên, các mặt tích cực đó còn phụ thuộc vào chế độ vận hành, điều tiết của toàn bộ hệ thống hồ chứa thuỷ điện lớn trên lưu vực, nhất là chế độ vận hành của những hồ chứa thuỷ điện lớn, có ý nghĩa điều tiết và gần biên giới, và phụ thuộc ý chí chủ quan của các nước. Vì vậy, các yếu tố tích cực trên không vững chắc.

Tác động tiêu cực:

Có thể nhận định một số tác động sau:

(1) Thứ nhất, các dự án chuyển nước ở trong và ngoài lưu vực của Thái Lan, và các dự án lấy nước tưới khác ở thượng nguồn, sẽ làm giảm dòng chảy mùa khô, kéo theo diện tích xâm nhập mặn bị tăng lên, có dự báo giảm khoảng 24% dòng chảy trong tháng 4 và tăng diện tích xâm nhập mặn khoảng 7%.

(2) Thứ hai, các công trình thuỷ điện lớn sẽ chia cắt dòng sông và chế độ vận hành tích nước, xả nước của chúng sẽ quyết định chế độ dòng chảy trên dòng chính sông Mêkông. Chế độ dòng chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thay đổi mạnh mẽ, ngoài việc ảnh hưởng đến khả năng khai thác nước của hệ thống các công trình hiện có, còn có thể làm thay đổi, thậm chí đảo lộn các hoạt động sản xuất, đời sống của nhân dân vùng ven sông, sống phụ thuộc vào các dòng sông, làm biến đổi các hệ sinh thái phụ thuộc vào nước suy giảm khả năng di cư, sinh sản của cá và sản lượng đánh bắt cá, … và biến đổi môi trường.

Có thể ngay cả mùa lũ - mùa nước nổi đặc trưng của vùng ĐBSCL - cũng không còn, bởi vì nước về nhiều hay ít do các hồ chứa nước ở thượng lưu quyết định. Trong mùa khô, có thời điểm sẽ thiếu nguồn nước ngọt nghiêm trọng. Điều đó đã xảy ra vào mùa khô giữa tháng tư vừa qua và trong những năm tới sẽ còn tiếp tục gay gắt. Vụ Đông Xuân 2009 vừa qua, lưu lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu chỉ đạt mức 1.600 m 3/s, so với nhu cầu của 1,5 triệu ha lúa phải là 1.700m 3/s. Vì vậy, tại khu vực duyên hải các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… nước mặn xâm nhập sâu trong đất liền có nơi tới 70 km và việc lấy nước để canh tác gặp nhiều khó khăn. Riêng ở thị xã vị Thanh (Hậu Giang), lần đầu tiên trong lịch sử, nước mặn đã xâm nhập và kéo dài 3-4 ngày liền, làm ảnh hưởng rất lớn tới việc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.

Nếu các đập thủy điện không có các đường di cư cho cá, thì đồng nghĩa với nguồn lợi thuỷ sản sẽ không còn. Hằng năm vào mùa lũ, một lượng cá khổng lồ di cư sinh sản cùng với nguồn cá linh, cá sặc, các loài cá quý hiếm khác như cá ho, thờn bơn, thác lác, tôm càng, mè vinh… đổ về tạo nguồn sống cho cư dân hai bờ sông. Nguồn lợi này sẽ nhanh chóng bị mất đi do các đoạn sông bị chia cắt bởi các đập ngăn nước. Ngoài ra, còn có các nguồn thuỷ sinh, rong tảo, vi sinh vật, có khả năng điều hoà, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Các loài quý hiếm nhanh chóng tới bờ diệt chủng như: cá heo nước ngọt Irrawaddy, cá catfish… và vô số loài cá di cư khác. Mất đi sự giàu có về sinh thái này sẽ là thảm họa.

Kinh nghiệm của thế giới về tác động của việc xây dựng các đập trên sông:

+ Theo các nhà sinh học, đập là hình thức gây tác hại lớn nhất trong số các tác động dẫn tới sự sụt giảm của các loài sinh vật nước ngọt. Khoảng 20% trong tổng số 8.000 loài sinh vật nước ngọt hiện nay đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.

+ Một con đập lớn dựng trên sông sẽ phá vỡ mối liên hệ tự nhiên giữa con sông và vùng đất nó chảy qua, tác động đến toàn bộ lưu vực sông và hệ thống sinh thái nó hỗ trợ; phá vỡ hệ sinh thái sông và đồng bằng thích nghi chặt chẽ với chu kỳ lũ của con sông; phá vỡ hệ động, thực vật dựa vào lũ để sinh sản, ấp trứng, di trú và giảm khả năng đưa dưỡng chất vào đất do lũ vận chuyển hàng năm.

+ Nghiên cứu của Hội Sông thế giới cho thấy các con đập trở thành tường rào ngăn chặn sự di chuyển của các loài sinh vật di trú giữa thượng nguồn và hạ lưu sông. Ví dụ như các loài cá hồi, các con đập cản trở chúng di trú lên thượng nguồn để đẻ trứng, qua đó đẩy số lượng sinh vật di trú giảm xuống.

+ Cửa sông, nơi nước ngọt chảy ra biển, là hệ thống sinh thái rất đa dạng. Khoảng 80% lượng cá con người đánh bắt được đến từ khu vực này. Việc các con đập thay đổi dòng chảy đến cửa sông là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng nguồn cá tại vịnh Mexico, biển Đen và Caspian, vịnh San Franciscoở California … Sự xuất hiện của con đập Akasombo đã huỷ diệt ngành đánh bắt trai sò một thời vô cùng hưng thịnh ở cửa sông Volta, và khiến số lượng các loài cá nhồng ở đây giảm hẳn.

+ Các con đập cũng làm thay đổi nhiệt độ nước sông, qua đó tạo ra môi trường phi tự nhiên đối với các loài sinh vật địa phương. Các nghiên cứu cho thấy số lượng cá hồi trên sông Towy (Xứ Wales) sụt giảm mạnh có liên quan đến sự thay đổi nhiệt độ nước sông do đập Llyn Brianne, xây trong thập niên 1969 gây ra. Vấn đề tương tự cũng xảy ra ở sông Rắn và vùng Klamath (bang Oregon , Mỹ).

+ Ở Mỹ, nơi có 5.500 con đập, chính quyền đã ngừng xây đập từ giữa thập niên 1990 và đang phải dành những khoản chi phí lớn để giải quyết những vấn đề lớn do các con đập gây ra.

Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy 58% các dự án thủy điện trên thế giới được lên kế hoạch và xây dựng mà không hề tính đến tác động môi trường, kể cả khi cá tác động này có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm, xói mòn nghiêm trọng…

(3) Thứ ba, lượng phù sa, bùn cát về Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giảm mạnh (có nghiên cứu dự báo mức giảm khoảng 40%), làm suy giảm tính đa dạng, mức độ phong phú của hệ sinh thái thuỷ sinh, giảm mức độ cung cấp các chất phú dưỡng cho đồng bằng,… điều đó có tác động to lớn đến chế độ canh tác và các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái toàn bộ vùng đồng bằng và vùng cửa sông, cửa biển.

Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy, việc xây dựng các hồ chứa trên sông sẽ phá vỡ hệ sinh thái và cắt đứt các nguồn trầm tích của sông, như: phá vỡ mối liên hệ tự nhiên giữa con sông và vùng đất nó chảy quan, tác động đến toàn bộ lưu vực sông và hệ sinh thái nó hỗ trợ; phá vỡ hệ sinh thái trên sông và đồng bằng, vốn thích nghi chặt chẽ với chu kỳ lũ của con sông; phá vỡ hệ động, thực vật dựa vào lũ để sinh sản, ấp trứng, di trú…Bên cạnh đó, các hồ chứa trên sông còn làm suy giảm các loại trầm tích xuống đáy hồ, cho phép sự hình thành bờ sông, châu thổ, phù sa, hồ, đê tự nhiên, đường bờ biển… và làm giảm chất dinh dưỡng bồi đắp cho các vùng đồng bằng do lũ bồi đắp hàng năm.

(4) Thứ tư, tăng mức độ lệ thuộc vào các nước ở thượng lưu. Việc vận hành tính nước, xả nước của các hồ chứa thuỷ điện do các nước quyết định và lượng nước về Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm gần 60% lượng nước của nước ta) sẽ do các nước thượng lưu điều tiết. Đây là một bất lợi của nước ta mà các nước khác có thể sử dụng làm đối trọng trong các mối quan hệ hợp tác khác.

Nguồn nước các sông quốc tế của Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc đảm bảo an ninh nguồn nước, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, trong đó quan trọng nhất là sông MêKông và sông Hồng. Nguồn nước xuyên biên giới trên các sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long đang và sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào việc điều tiết, vận hành của các hồ chứa nước ở phía thượng nguồn, Việt Nam hoàn toàn bị động.

Hiện nay, các nước ở thượng lưu hai sông lớn nêu trên đang khai thác mạnh mẽ nguồn nước trên các sông đó. Trong thời gian tới, do yêu cầu phát triển, các nước sẽ tăng cường xây dựng các công trình thuỷ điện, chuyển nước và các công trình cấp nước tưới để khai thác những vùng đất đai rộng lớn chưa được khai phá (Lào và Campuchia, hiện đang có xu hướng cho các quốc gia khác thuê những vùng đất rộng lớn để canh tác). Khai thác tài nguyên để phát triển là xu thế tất yếu, Việt Nam ở cuối nguồn sẽ chịu nhiều tác động. Mặt lợi có thể là giảm mức độ khắc nghiệt của lũ và hạn nhưng không vững chắc.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.