Tác dụng của trầu đối với sức khoẻ
Ở một số vùng Đông Nam Á, dân cũng có tập quán ăn trầu. Trầu có vị cay nồng, tính ấm. Vào 3 kinh phế, tỳ, vị. Trầu có tính năng hạ khí, chỉ khái, tiêu viêm, sát trùng (vi khuẩn và ký sinh trùng), trừ phong thấp, kích thích tiêu hoá và thần kinh, phòng bệnh lam sơn chướng khí.
Thành phần hoá học của lá trầu
Có tài liệu nói 0,8 - 2,4% tinh dầu. Trong tinh dầu có 2 chất phenol là betelphenol và chavicol. Theo tài liệu khác, tinh dầu có vào khoảng 1% bao gồm cadinen, chavicol, chavibetol và cineol. Do có nhiều tinh dầu dễ bay hơi nên tỷ lệ phần trăm của chúng rất khác nhau. Các mẫu thử của Malaysia cho thấy có đến 69% chavibetol. Khái quát, lá trầu có một số tác dụng theo dược lý hiện đại: kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, dãn mạch, kích thích thần kinh trung ương gây hưng phấn.
Các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy, lá trầu có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh đối với tụ cầu vàng Staphylococcus aureus, subtilis, E.coli… Bệnh viện Hai Bà Trưng đã chế cao trầu để chữa viêm nha chu rất có hiệu quả, vừa rẻ dễ sử dụng.
Dân gian Việt nam có kinh nghiệm dùng trầu như sau:
- Chống lạnh: nhất là khi ra đồng làm việc về mùa đông, nông dân thường nhai trầu.
- Chữa đau đầu: cuống lá trấu 7 - 10 cái giã nhuyễn, lấy nước cốt pha mật ong uống đồng thời lấy hai đầu nhọn của lá trầu nhai dập đắp vào hai bên thái dương.
- Chữa cảm lạnh: dùng lá trầu giã nhuyễn cho vào khăn mặt hoặc khăn tay, nhúng vào nước ấm đánh gió dọc hai bên cột sống. Dùng cách này an toàn hơn cạo gió.
- Chữa đau bụng do lạnh gây nôn mửa, ợ chua, tiêu chảy, ăn không tiêu: dùng 2 - 4 lá trầu nhai nuốt nước. Đồng thời lấy 3 - 4 lá trầu hơ nóng cho héo mềm đắp lên ruốn, băng giữ lại.
- Viêm răng lợi có mủ, chảy máu: lá trầu sắc đặc cô thành cao, lấy bông tẩm đắp vào chỗ tổn thương, liên tục hằng ngày.
- Chữa ho suyễn: lá trầu không 4 - 8g ép lấy nước uống.
- Chữa ho rát họng: trộn 1/4 nước ép cây húng quế với nước cây bạc ha, gừng tươi, lá trầu không với mật ong. Dùng nước này để ngậm sẽ thấy hiệu quả nhanh chóng.
- Đau mắt(đau mắt đỏ, viêm kết mạc): hâm lá trầu vào nước sôi để xông mắt.
- Phong thấp đau nhức chân tay: gốc rễ trầu 12g, rễ lá lốt 12g, lá và rễ cây xấu hổ (mắc cỡ) 12g sắc uống liên tục một tuần. Chú ý không để lẫn hạt cây xấu hổ rất độc.
- Chấn thương sưng đau nhức: lá trầu giã nguyễn với ít giấm cho dẻo đắp lên chỗ sưng.
- Chữa các bệnh ngoài da: hắc lào, chàm, lở loét, mẩn ngứa, côn trùng đốt, trẻ bị hăm, rôm sảy. Lấy lá trầu giã nhuyễn hòa nước đun sôi để nguội rửa, đắp chỗ tổn thương.
- Vết thương nhiễm khuẩn: rửa bằng nước nấu lá trầu với ít phèn chua (4g phèn chua cho 1 lít nước).
- Chữa bỏng: lá trầu giã nhuyễn với ít rượu đắp lên vết bỏng. Chú ý chỉ dùng cho vết bỏng nhỏ và nông ngoài da (bỏng nước sôi).
Khi dùng lá trầu chữa các bệnh lở loét ngoài da có kinh nghiệm dùng lá trầu non hãm nước sôi 15 phút sẽ cho hiệu quả tốt hơn nước sắc lá trầu.








