Sự hồi sinh của một nền kinh tế
Nhưng chỉ 10 năm sau, nền kinh tế Nhật Bản đã lấy lại được phong độ. Ngay những năm đầu sau chiến tranh, mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Nhật Bản đã đạt 8%. Một loạt các cải cách được tiến hành để thúc đẩy phát triển kinh tế. Luật lao động cũng được thay đổi, quyền lợi của người lao động được đảm bảo hơn đã làm cho năng suất lao động tăng đáng kể.
Sau thành công của thập kỷ đầu tiên, mức tăng trưởng thay vì tụt giảm lại càng tăng mạnh, trong khi cho đến thời điểm đó rất ít nền kinh tế có thể duy trì được mức tăng trưởng cao trong một thời gian dài. Cho đến đầu thập kỷ 70, mức tăng trưởng trung bình hàng năm đã đạt tới 10%. Chỉ trong vòng 7 năm, thu nhập của người dân Nhật Bản đã tăng gấp đôi. Năm 1964, Nhật Bản gia nhập OECD, tổ chức của những quốc gia phát triển nhất thế giới.
Trong thập niên 70, những cú sốc dầu hoả đã gây một loạt khó khăn cho nền kinh tế: lần đầu tiên trong nhiều năm cán cân vãng lai bị thâm hụt, tăng trưởng giảm, lạm phát và thất nghiệp gia tăng... Nhưng Nhật Bản đã nhanh chóng tìm cách khắc phục và sức sống của nền kinh tế lại được phục hồi. Các công ty Nhật Bản liên tục cải tiến công nghệ, những chiếc xe sản xuất tại Nhật Bản tiết kiệm năng lượng hơn hẳn những chiếc xe của Mỹ. Lợi thế cạnh tranh của các công ty Nhật Bản ngày càng tăng, nền kinh tế Nhật Bản sau cú sốc càng khẳng định được mình.
Cho tới thập kỷ 80, dưới con mắt của toàn thế giới, Nhật Bản là một cường quốc kinh tế. Nước Nhật dường như đang thống lĩnh toàn cầu với một loạt các mặt hàng xuất khẩu, từ chiếc Walkman bé nhỏ của Sony, cho tới những chiếc xe hơi tiện nghi của các hãng Toyota, Mitsubishi, Honda... Nếu trong thập niên 50, “Made in Japan ” đồng nghĩa với chất lượng thấp thì giờ đây dòng chữ này đi đôi với sự tinh xảo của sản phẩm, với chất lượng hàng đầu và sự chú ý đến từng chi tiết.
Ngoài việc chiếm lĩnh những thị trường, nước Nhật dường như đang mua lại toàn thế giới. Các nhà đầu tư Nhật Bản đến Mỹ và các nước Tây Âu để mua bất động sản. Phương Tây bắt đầu lo ngại và cảm thấy như không còn cách nào có thể cản được bước tiến của nền kinh tế Nhật.
Mỹ yêu cầu Nhật Bản tự hạn chế xuất khẩu, chính phủ của Thủ tướng Yasuhiro Nakasone lúc bấy giờ không muốn căng thẳng thêm với phương Tây vì tuy Nhật Bản có thể là người khổng lồ kinh tế, nhưng lại chỉ là một chàng lùn chính trị. Theo kêu gọi của chính phủ, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu chuyển từ định hướng xuất khẩu sang tập trung vào thị trường nội địa. Cho đến tận những năm cuối thập niên 80, mức tiêu dùng của người dân Nhật Bản vẫn bị đánh giá là quá thấp trong khi tiết kiệm lại cao. Đầu cơ vào cổ phiếu và bất động sản tăng mạnh, đầu cơ càng tăng, giá cổ phiếu và bất động sản càng cao. Trong thời điểm này, rất nhiều người giàu lên nhờ buôn bán bất động sản và cổ phiếu. Nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu chuyển thành cái mà người ta vẫn gọi là nền kinh tế “bong bóng”. Các công ty cũng tăng cường đầu tư bằng cách vay ngân hàng và những khoản vay này thường được thế chấp bằng bất động sản. Vào thời điểm đó, có khoảng 4/5 trong tổng số các khoản vay ngân hàng được thế chấp bằng bất động sản. Hệ thống tài chính dường như bị gắn chặt với thị trường bất động sản. Giá đất cao đến mức giá đất ở khu vực hoàng cung Tokyođược so sánh với giá đất của cả bang California .
Năm 1989, đứng trước cơn sốt nhà đất và chứng khoán, Ngân hàng Nhật Bản thắt chặt chính sách tiền tệ, nâng lãi suất để tránh cho giá đất tiếp tục tăng. Kết quả là từ năm 1990, giá chứng khoán và giá đất bắt đầu giảm mạnh. “Bong bóng” đã vỡ. Nền kinh tế Nhật bắt đầu đi vào suy thoái, tình trạng này kéo dài suốt hơn mười năm.
Trong thời gian này, các công ty vì tuyệt vọng tìm mọi cách nâng doanh thu để có tiền trả nợ cho ngân hàng. Trong khi nền kinh tế bị suy thoái với một thị trường quá thừa hàng hoá thì cách đơn giản nhất là hạ giá. Việc các công ty đua nhau hạ giá làm cho mặt bằng giá ngày càng thấp, nền kinh tế Nhật Bản phải đối mặt với tình trạng giảm phát. Nợ ngân hàng không trả được buộc các công ty phải bán cổ phiếu và bất động sản mà họ nắm giữ. Nhưng giờ đây giớ bất động sản và cổ phiếu thậm chí còn thấp hơn cả những khoản vay ngân hàng. Nhiều công ty không trả được nợ đã tuyên bố phá sản. Nợ xấu của các ngân hàng bắt đầu chồng chất. Kết quả là chính các ngân hàng, mạch máu của cả nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng. Một loạt ngân hàng tuyên bố phá sản.
Chính phủ đã đưa ra một số biện pháp nhằm khôi phục lại nền kinh tế nhưng phần lớn những cố gắng của chính phủ đều ít có hiệu quả nếu không nói là còn gây tác động tiêu cực. Cụ thể, chính phủ đã mắc phải sai lầm khi tăng thuế tiêu dùng năm 1997 vào lúc cả nền kinh tế vẫn còn đang phải đương đầu với giảm phát. Sau đó, nền kinh tế lại chao đảo một lần nữa khi Ngân hàng Nhật Bản quyết định tăng lãi suất vào năm 2000. Kết quả là sáu tháng sau, Ngân hàng phải quay trở lại mức lãi suất băng 0. Ngoài hai sai lầm trầm trọng này, những chính sách nửa vời khác mà chính phủ đưa ra tuy có một số ít tác động tích cực nhưng cũng không đem lại hiệu quả lâu dài.
Phải đến khi chính phủ của thủ tướng Koizumi đưa ra được những cải cách triệt để, nền kinh tế Nhật Bản mới thật sự có dấu hiệu phục hồi. Lên nắm quyền vào năm 2001, thủ tướng Koizumi đã cho tiến hành hàng loạt cải cách cấp tiến với quyết tâm trả lại sức sống cho một nền kinh tế đã quá mệt mỏi. Có thể kể đến Kế hoạch tư nhân hoá ngành bưu điện Nhật Bản, Chương trình chỉnh trang đô thị và việc xây dựng các đặc khu cải cách cơ cấu. Nhưng quan trọng nhất là sự ra đời của Chương trình phục hồi tài chính. Hiểu được tầm quan trọng của hệ thống tài chính, chính phủ của thủ tướng Koizumi đã đặt quyết tâm giảm bớt tình trạng nợ xấu.
Nhưng để giải quyết triệt để nợ xấu, rất nhiều công ty đã phải cải tổ lại, dẫn đến việc sa thải lao động hàng loạt. Thấy trước điều đó, nhà nước cùng với khu vực tư nhân đã thành lập tổ chức Phục hồi Công nghiệp Nhật Bản. Tổ chức này mua lại nợ xấu của những công ty tuy gặp khó khăn nhưng về cơ bản vẫn có tiềm năng phát triển. Kết quả là tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng vào năm 2002 là 8,4% nhưng đến năm 2005, con số này chỉ còn 2,9%.
Một yếu tố quan trọng góp phần phục hồi nền kinh tế là vai trò của khu vực tư nhân. Sau khi “bong bóng” vỡ, phần lớn các công ty Nhật Bản lâm vào tình trạng dư thừa: thừa nhân công, thừa công suất, thừa các khoản nợ. Để tồn tại, các công ty đã phải tổ chức lại, hợp lý hoá quá trình sản xuất cũng như phương thức kinh doanh. Sau khủng hoảng, các công ty đã biết cách tận dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, không đầu tư quá mức dẫn đến dư thừa công suất. Tình trạng nhiều công ty kinh doanh hoặc sản xuất quá nhiều mặt hàng đã dần biến mất. Nhiều công ty phải giải thể hoặc sáp nhập với các công ty khác. Từ 14 công ty dầu lửa nay chỉ còn 4, số công ty xi măng hiện chỉ còn 3 thay vì 7 như trước và từ 14 công ty sản xuất giấy chỉ còn 3.
Cộng với những nỗ lực từ bên trong, Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần làm nền kinh tế Nhật Bản được hồi sinh. Tăng trưởng của hai nước này, đặc biệt là của Trung Quốc đã giúp Nhật Bản tăng xuất khảu nhiều mặt hàng.
Cho đến nay, có thể nói là nền kinh tế Nhật đã thật sự được phục hồi. Năm 2004, tăng trưởng 1,9%, dự báo cho năm 2005 là 1,6%. Thất nghiệp đầu năm 2003 là 5,5%, (mức cao nhất sau chiến tranh) nhưng đến năm 2005 đã tụt xuống còn 4%. Thay vì sa thải, các công ty bắt đầu tuyển thêm nhiều lao động mới, thêm vào đó, mức lương cũng bắt đầu tăng. Thực tế, lợi nhuận của các công ty đã liên tục tăng trong vòng ba năm qua. Mức tăng lợi nhuận của những tập đoàn sản xuất lớn trung bình là 5,6% năm. Mức tiêu dùng của người dân cũng tăng đáng kể. Thị trường bất động sản lại sôi động. Dựa theo điều tra của Ngân hàng Nhật Bản, mức đầu tư của khu vực tư nhân trong năm 2005 tăng 6,8% so với năm 2004. Nếu chỉ tính đến các tập đoàn chế tác lớn, con số này là 9,3%. Những con số này đã chứng minh cho sự hồi sinh của nền kinh tế Nhật Bản.
Sự hồi sinh này đáng lẽ phải xảy ra từ nhiều năm trước chứ không phải đến tận bây giờ. Đây là điểm yếu của chính phủ Nhật Bản vì đã không kịp thời đưa ra những giải pháp thích hợp để phục hồi đúng lúc hệ thống tài chính. Tuy nhiên, cuối cùng sau một thời gian dài trì trệ, một lần nữa, nền kinh tế Nhật Bản đã chứng minh được chỗ đứng của mình trên toàn cầu.
Tài liệu tham khảo:
1) Tạp chí Asia- Pacific Perspective, số 2/2006
2) Tạp chí The Economist, 20/07/2006
3 Japan ’s Monetary Policy transition, 1955-2004, James R. Rhodes, Naoyuki Yoshino








