Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/09/2006 00:01 (GMT+7)

Sự hồi sinh của một nền kinh tế

Nhưng chỉ 10 năm sau, nền kinh tế Nhật Bản đã lấy lại được phong độ. Ngay những năm đầu sau chiến tranh, mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Nhật Bản đã đạt 8%. Một loạt các cải cách được tiến hành để thúc đẩy phát triển kinh tế. Luật lao động cũng được thay đổi, quyền lợi của người lao động được đảm bảo hơn đã làm cho năng suất lao động tăng đáng kể.

Sau thành công của thập kỷ đầu tiên, mức tăng trưởng thay vì tụt giảm lại càng tăng mạnh, trong khi cho đến thời điểm đó rất ít nền kinh tế có thể duy trì được mức tăng trưởng cao trong một thời gian dài. Cho đến đầu thập kỷ 70, mức tăng trưởng trung bình hàng năm đã đạt tới 10%. Chỉ trong vòng 7 năm, thu nhập của người dân Nhật Bản đã tăng gấp đôi. Năm 1964, Nhật Bản gia nhập OECD, tổ chức của những quốc gia phát triển nhất thế giới.

Trong thập niên 70, những cú sốc dầu hoả đã gây một loạt khó khăn cho nền kinh tế: lần đầu tiên trong nhiều năm cán cân vãng lai bị thâm hụt, tăng trưởng giảm, lạm phát và thất nghiệp gia tăng... Nhưng Nhật Bản đã nhanh chóng tìm cách khắc phục và sức sống của nền kinh tế lại được phục hồi. Các công ty Nhật Bản liên tục cải tiến công nghệ, những chiếc xe sản xuất tại Nhật Bản tiết kiệm năng lượng hơn hẳn những chiếc xe của Mỹ. Lợi thế cạnh tranh của các công ty Nhật Bản ngày càng tăng, nền kinh tế Nhật Bản sau cú sốc càng khẳng định được mình.

Cho tới thập kỷ 80, dưới con mắt của toàn thế giới, Nhật Bản là một cường quốc kinh tế. Nước Nhật dường như đang thống lĩnh toàn cầu với một loạt các mặt hàng xuất khẩu, từ chiếc Walkman bé nhỏ của Sony, cho tới những chiếc xe hơi tiện nghi của các hãng Toyota, Mitsubishi, Honda... Nếu trong thập niên 50, “Made in Japan ” đồng nghĩa với chất lượng thấp thì giờ đây dòng chữ này đi đôi với sự tinh xảo của sản phẩm, với chất lượng hàng đầu và sự chú ý đến từng chi tiết.

Ngoài việc chiếm lĩnh những thị trường, nước Nhật dường như đang mua lại toàn thế giới. Các nhà đầu tư Nhật Bản đến Mỹ và các nước Tây Âu để mua bất động sản. Phương Tây bắt đầu lo ngại và cảm thấy như không còn cách nào có thể cản được bước tiến của nền kinh tế Nhật.

Mỹ yêu cầu Nhật Bản tự hạn chế xuất khẩu, chính phủ của Thủ tướng Yasuhiro Nakasone lúc bấy giờ không muốn căng thẳng thêm với phương Tây vì tuy Nhật Bản có thể là người khổng lồ kinh tế, nhưng lại chỉ là một chàng lùn chính trị. Theo kêu gọi của chính phủ, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu chuyển từ định hướng xuất khẩu sang tập trung vào thị trường nội địa. Cho đến tận những năm cuối thập niên 80, mức tiêu dùng của người dân Nhật Bản vẫn bị đánh giá là quá thấp trong khi tiết kiệm lại cao. Đầu cơ vào cổ phiếu và bất động sản tăng mạnh, đầu cơ càng tăng, giá cổ phiếu và bất động sản càng cao. Trong thời điểm này, rất nhiều người giàu lên nhờ buôn bán bất động sản và cổ phiếu. Nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu chuyển thành cái mà người ta vẫn gọi là nền kinh tế “bong bóng”. Các công ty cũng tăng cường đầu tư bằng cách vay ngân hàng và những khoản vay này thường được thế chấp bằng bất động sản. Vào thời điểm đó, có khoảng 4/5 trong tổng số các khoản vay ngân hàng được thế chấp bằng bất động sản. Hệ thống tài chính dường như bị gắn chặt với thị trường bất động sản. Giá đất cao đến mức giá đất ở khu vực hoàng cung Tokyođược so sánh với giá đất của cả bang California .

Năm 1989, đứng trước cơn sốt nhà đất và chứng khoán, Ngân hàng Nhật Bản thắt chặt chính sách tiền tệ, nâng lãi suất để tránh cho giá đất tiếp tục tăng. Kết quả là từ năm 1990, giá chứng khoán và giá đất bắt đầu giảm mạnh. “Bong bóng” đã vỡ. Nền kinh tế Nhật bắt đầu đi vào suy thoái, tình trạng này kéo dài suốt hơn mười năm.

Trong thời gian này, các công ty vì tuyệt vọng tìm mọi cách nâng doanh thu để có tiền trả nợ cho ngân hàng. Trong khi nền kinh tế bị suy thoái với một thị trường quá thừa hàng hoá thì cách đơn giản nhất là hạ giá. Việc các công ty đua nhau hạ giá làm cho mặt bằng giá ngày càng thấp, nền kinh tế Nhật Bản phải đối mặt với tình trạng giảm phát. Nợ ngân hàng không trả được buộc các công ty phải bán cổ phiếu và bất động sản mà họ nắm giữ. Nhưng giờ đây giớ bất động sản và cổ phiếu thậm chí còn thấp hơn cả những khoản vay ngân hàng. Nhiều công ty không trả được nợ đã tuyên bố phá sản. Nợ xấu của các ngân hàng bắt đầu chồng chất. Kết quả là chính các ngân hàng, mạch máu của cả nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng. Một loạt ngân hàng tuyên bố phá sản.

Chính phủ đã đưa ra một số biện pháp nhằm khôi phục lại nền kinh tế nhưng phần lớn những cố gắng của chính phủ đều ít có hiệu quả nếu không nói là còn gây tác động tiêu cực. Cụ thể, chính phủ đã mắc phải sai lầm khi tăng thuế tiêu dùng năm 1997 vào lúc cả nền kinh tế vẫn còn đang phải đương đầu với giảm phát. Sau đó, nền kinh tế lại chao đảo một lần nữa khi Ngân hàng Nhật Bản quyết định tăng lãi suất vào năm 2000. Kết quả là sáu tháng sau, Ngân hàng phải quay trở lại mức lãi suất băng 0. Ngoài hai sai lầm trầm trọng này, những chính sách nửa vời khác mà chính phủ đưa ra tuy có một số ít tác động tích cực nhưng cũng không đem lại hiệu quả lâu dài.

Phải đến khi chính phủ của thủ tướng Koizumi đưa ra được những cải cách triệt để, nền kinh tế Nhật Bản mới thật sự có dấu hiệu phục hồi. Lên nắm quyền vào năm 2001, thủ tướng Koizumi đã cho tiến hành hàng loạt cải cách cấp tiến với quyết tâm trả lại sức sống cho một nền kinh tế đã quá mệt mỏi. Có thể kể đến Kế hoạch tư nhân hoá ngành bưu điện Nhật Bản, Chương trình chỉnh trang đô thị và việc xây dựng các đặc khu cải cách cơ cấu. Nhưng quan trọng nhất là sự ra đời của Chương trình phục hồi tài chính. Hiểu được tầm quan trọng của hệ thống tài chính, chính phủ của thủ tướng Koizumi đã đặt quyết tâm giảm bớt tình trạng nợ xấu.

Nhưng để giải quyết triệt để nợ xấu, rất nhiều công ty đã phải cải tổ lại, dẫn đến việc sa thải lao động hàng loạt. Thấy trước điều đó, nhà nước cùng với khu vực tư nhân đã thành lập tổ chức Phục hồi Công nghiệp Nhật Bản. Tổ chức này mua lại nợ xấu của những công ty tuy gặp khó khăn nhưng về cơ bản vẫn có tiềm năng phát triển. Kết quả là tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng vào năm 2002 là 8,4% nhưng đến năm 2005, con số này chỉ còn 2,9%.

Một yếu tố quan trọng góp phần phục hồi nền kinh tế là vai trò của khu vực tư nhân. Sau khi “bong bóng” vỡ, phần lớn các công ty Nhật Bản lâm vào tình trạng dư thừa: thừa nhân công, thừa công suất, thừa các khoản nợ. Để tồn tại, các công ty đã phải tổ chức lại, hợp lý hoá quá trình sản xuất cũng như phương thức kinh doanh. Sau khủng hoảng, các công ty đã biết cách tận dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, không đầu tư quá mức dẫn đến dư thừa công suất. Tình trạng nhiều công ty kinh doanh hoặc sản xuất quá nhiều mặt hàng đã dần biến mất. Nhiều công ty phải giải thể hoặc sáp nhập với các công ty khác. Từ 14 công ty dầu lửa nay chỉ còn 4, số công ty xi măng hiện chỉ còn 3 thay vì 7 như trước và từ 14 công ty sản xuất giấy chỉ còn 3.

Cộng với những nỗ lực từ bên trong, Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần làm nền kinh tế Nhật Bản được hồi sinh. Tăng trưởng của hai nước này, đặc biệt là của Trung Quốc đã giúp Nhật Bản tăng xuất khảu nhiều mặt hàng.

Cho đến nay, có thể nói là nền kinh tế Nhật đã thật sự được phục hồi. Năm 2004, tăng trưởng 1,9%, dự báo cho năm 2005 là 1,6%. Thất nghiệp đầu năm 2003 là 5,5%, (mức cao nhất sau chiến tranh) nhưng đến năm 2005 đã tụt xuống còn 4%. Thay vì sa thải, các công ty bắt đầu tuyển thêm nhiều lao động mới, thêm vào đó, mức lương cũng bắt đầu tăng. Thực tế, lợi nhuận của các công ty đã liên tục tăng trong vòng ba năm qua. Mức tăng lợi nhuận của những tập đoàn sản xuất lớn trung bình là 5,6% năm. Mức tiêu dùng của người dân cũng tăng đáng kể. Thị trường bất động sản lại sôi động. Dựa theo điều tra của Ngân hàng Nhật Bản, mức đầu tư của khu vực tư nhân trong năm 2005 tăng 6,8% so với năm 2004. Nếu chỉ tính đến các tập đoàn chế tác lớn, con số này là 9,3%. Những con số này đã chứng minh cho sự hồi sinh của nền kinh tế Nhật Bản.

Sự hồi sinh này đáng lẽ phải xảy ra từ nhiều năm trước chứ không phải đến tận bây giờ. Đây là điểm yếu của chính phủ Nhật Bản vì đã không kịp thời đưa ra những giải pháp thích hợp để phục hồi đúng lúc hệ thống tài chính. Tuy nhiên, cuối cùng sau một thời gian dài trì trệ, một lần nữa, nền kinh tế Nhật Bản đã chứng minh được chỗ đứng của mình trên toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1) Tạp chí Asia- Pacific Perspective, số 2/2006

2) Tạp chí The Economist, 20/07/2006

3 Japan ’s Monetary Policy transition, 1955-2004, James R. Rhodes, Naoyuki Yoshino

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.