Sốc - một tình trạng khẩn cấp
Mức độ sốctuỳ thuộc vào cường độ của kích thích (chảy máu nhanh và ồ ạt gây sốc nặng hơn chảy máu từ từ), vào tính chất thương tổn, vào thể lực và tuổi tác nạn nhân và vào sự kịp thời trong cấp cứ. Sốc có ba mức độ:
- Sốc nhẹ : bệnh nhân da xanh, lạnh, toát mồ hôi, khát nước, mạch nhanh, nhịp thở nhanh. Nếu là sốc do mất máu thì số lượng máu mất khoảng 10 – 20%.
- Sốc trung bình: bệnh nhân nằm yên, vẻ mặt mệt mỏi, thở khó và nhanh, mạch nhanh nhỏ, mắt lờ đờ, da tái nhợt nhất là đầu ngón chân ngón tay. Nếu là sốc do mất máu thì số lượng máu mất khoảng 20 – 40%.
- Sốc nặng: bệnh nhân vật vã hoặc lú lẫn, thở hổn hển và không đều, hôn mê sâu và tử vong. Nếu do mất máu thì số lượng mất phải trên 40%.
Các loại sốc thường gặp
Sốc giảm thể tích : do mất máu (trong các vết thương) hay mất huyết tương (trong các vết phỏng rộng). Cần truyền máu hay huyết tương.
Sốc chuyển hoá: do nôn ói nhiều hay tiêu chảy nhiều, làm mất nước và chất điện giải gây rối loạn chuyển hoá tế bào. Thường gặp trong dịch tiêu chảy cấp hay ngộ độc thức ăn. Cần bù nước và chất điện giải.
Sốc tim: do bị tổn thương quá nặng (nhồi máu cơ tim, loạn nhịp), tim không co bóp nổi để tống máu ra. Hoặc máu các nơi không dồn về tim được (do tràn dịch màng ngoài tim, viêm màng ngoài tim co thắt). Cần cho thuốc trợ tim và cần điều trị bệnh tim là nguyên nhân gây sốc.
Sốc phản vệ : do một protein lạ hay một hoá chất gây dị ứng khi vào cơ thể (như là chủng ngừa, bị côn trùng đốt, tiêm kháng sinh Pencillin), diễn tiến rất nhanh đưa tới tử vong.
Sốc chấn thương : do kết hợp cả yếu tố thần kinh (quá đau) và mất máu (dù số lượng máu mất không nhiều bằng sốc giảm thể tích).
Sốc là tình trạng nặng, ảnh hưởng đến các dấu hiệu sinh tồn là mạch, huyết áp, nhịp thở, thân nhiệt; phải cấp cứu kịp thời để duy trì tính mạng. Cần phân biệt với hiện tượng ngất xỉu xảy ra khi quá xúc động, quá đau hay hạ huyết áp trong thế đứng, hạ đường huyết; gây giảm tạm thời lượng máu lên não, bệnh nhân mất đột ngột các chức năng vận động, cảm giác, ý thức; ngã xuống trong vài giây rồi tỉnh lại, trường hợp này chỉ cần cho bệnh nhân nằm nghỉ, kê chân cao, cho uống sữa hay nước đường một lúc sau thì khoẻ.
Xử trí bệnh nhân sốc cần làm sớm khi chưa có dấu hiệu rõ, dựa vào bệnh cảnh mà nghĩ đến diễn tiến sẽ đưa đến sốc, xử trí sớm có thể ngăn chận xảy ra sốc hay nếu có thì không nặng.
Đối với người bị thương, cần băng cầm máu và bất động nếu có gãy xương.
Đối với nạn nhân phỏng (bỏng) nhiệt, đau và thất thoát huyết tương tại vết bỏng sẽ gây sốc, nên cắt bỏ phần quần áo chung quanh vết bỏng (không cởi ra), ngâm gạc trong nước đá rồi đắp lên vết bỏng, nhằm làm giảm đau và giảm việc thoát huyết tương ra vết bỏng (các mọng nước), sau đó đắp nước đá vụn lên gạc trong lúc chờ; vào mùa lạnh cần chú ý giữ ấm cơ thể cho nạn nhân, hoặc vết bỏng quá lớn thì không nên đắp nước đá vì có thể gây hạ nhiệt.
Trường hợp bị nhồi máu cơ tim, để bệnh nhân nằm yên tại chỗ, gọi điện về Trung tâm cấp cứu thông báo tình hình, hỏi những cách xử trí trong lúc chờ xe cấp cứu đến, an ủi và động viên để bệnh nhân bớt lo lắng.
Đặt bệnh nhân sốc nằm ở tư thế kê hai chân cao cách mặt giường độ 30 cm để máu dồn về não. Nhưng không kê chân cao khi bệnh nhân bị thương ở chân, hay ở đầu, ngực hoặc nhồi máu cơ tim. Tránh tụ tập đông người nơi bệnh nhân nằm, chỉ những người biết về sơ cứu mới ở cạnh nạn nhân để theo dõi thân nhiệt, mạch, huyết áp, nhịp thở trong lúc chờ xe cứu thương đến hay chuyển bệnh nhân đi bệnh viện.








