Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 22/10/2009 16:56 (GMT+7)

So sánh các phương pháp phân loại khối đá RMR, Q và RMI

Trong thực tế, khối đất đá luôn biến động theo không và thời gian. Cùng một loại đá nhưng ở hai vị trí công trình khác nhau cũng có thể không giống nhau. Hơn nữa, do mỗi phương pháp phân loại không thể chú ý tới đồng thời tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới đặc tính cơ lý của khối đất đá, cho nên mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng của mình. Chính vì vậy, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc các kết quả nghiên cứu của một phương pháp phân loại theo kinh nghiệm nào mà trước đó cần phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ, cẩn thận để lựa chọn phương pháp phân loại phù hợp cho công trình dự kiến áp dụng. Hiện nay, việc áp dụng phương pháp phân loại nào cho phù hợp với từng công trình luôn là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi.

Bài báo trình bày một ví dụ để so sánh khả năng áp dụng giữa các phương pháp phân loại RMR, Q, RMI tại cùng một công trình, sử dụng 3 đội khảo sát khác nhau, mỗi đội sẽ tiến hành xác định điểm số phân loại khối đá theo từng phương pháp một cách độc lập nhưng khi thí nghiệm trong phòng thì thực hiện cùng nhau (hay nói cách khác, sử dụng chung kết quả thí nghiệm trong phòng đối với các chỉ tiêu chung của các phương pháp).

1. Nội dung và kết quả khảo sát

Đá tại khu vực tiến hành nghiên cứu thuộc nhóm đá mácma, không bị phong hoá đến phong hoá nhẹ, ít nứt nẻ, nứt nẻ trung bình đến phân khối. Để xác định độ bền nén của đá, người ta tiến hành lấy các mẫu đá nguyên đem về phòng thí nghiệm để nén.

Kết quả thí nghiệm cho thấy độ bền nén đơn trục của đá thay đổi trong khoảng 74 – 87 Mpa. Để xác định các thông số hiện trường (điều kiện khe nứt, phong hoá…) người ta sử dụng phương pháp dựa trên cơ sở quan sát thực tế, đối chiếu với bảng phân loại của từng phương pháp để xác định điểm số của từng thông số. Theo đó, người nghiên cứu sẽ thu được kết quả phân loại theo từng phương pháp như sau.

1.1 Phân loại theo RMR

Trong 10 thông số thuộc phân loại RMR, có 5 thông số có giá trị thay đổi là: độ mở khe nứt, độ lấp nhét trong khe nứt, độ phong hoá bề mặt khe nứt, điều kiện nước trong khe nứt và hướng của khe nứt so với trục dọc CTN. Hai thông số hầu như không có sự thay đổi là RQD và độ nhám bề mặt khe nứt.

- Điều kiện nước trong khe nứt, thay đổi từ trạng thái khô đến có nước nhỏ giọt và do đó, điểm số cho thông số này có sự thay đổi đáng kể (H.1);

- Độ mở, độ phong hoá và chất lấp nhét trong khe nứt: thay đổi trong phạm vi nhỏ;

- Độ nhám bề mặt khe nứt: kết quả quan sát tại 5 vị trí cho thấy điểm số độ nhám bề mặt khe nứt không thay đổi và bằng 1;

- Chỉ số RQD: các kết quả thu được tại các vị trí cho thấy số lượng khe nứt/ mét dài nhỏ và hầu như không thay đổi, RQD = 20.

1.2 Phân loại theo Q

Trong 6 thông số thuộc phân loại Q, chỉ có 2 thông số là RQD và J nlà có sự thay đổi đáng kể, chỉ số J rhầu như không thay đổi và bằng 1. Chỉ số RQD được xác định theo chỉ tiêu số lượng khe nứt trên 1m3 đá (J ) theo công thức:

RQD = (115 – 3.3.J v).

1.3 Phân loại theo RMI

Trong 5 thông số thuộc phân loại RMI, thông số thể tích khối (độ phân chia khối trong đá) (V b) có sự thay đổi đáng kể còn thông số biến đổi khe nứt (J a) hầu như không thay đổi và bằng 4.

2. So sánh kết quả giữa ba phương pháp phân loại khối đá

Trên cơ sở các kết quả đánh giá chỉ tiêu tại hiện trường, kết quả thí nghiệm trong phòng, điểm số phân loại và dự đoán yêu cầu chống giữ theo các phương pháp, ta tiến hành so sánh ưu, nhược điểm của từng phương pháp trong phân loại khối đá và dự kiến yêu cầu chống giữ.

Để so sánh 3 phương pháp phân loại, ta dựng biểu đồ điểm số theo từng phương pháp. Từ các biểu đồ đã dựng cho phép ta đi đến những nhận định sau:

- Phương pháp phân loại RMR ít nhạy cảm với sự thay đổi giá trị các thông số. Hầu như các kết quả đều cho đất đá trong vùng nghiên cứu đều cùng một nhóm (20 – 40, 40 – 60 và 60 – 80) (Xem bảng 1).

- Phương pháp phân loại theo Q cho thấy khả năng nhạy cảm với sự thay đổi của các thông số. Sự thay đổi giá trị Q cho phép ta chuyển kết quả phân loại khối đá từ nhóm này sang nhóm khác, thậm chí từ giới hạn dưới của nhóm đá này sang giới hạn trên của nhóm đá kế tiếp (xem bảng 1).

- Phương pháp phân loại theo RMI cho thấy khả năng nhạy cảm với sự thay đổi của các thông số trong điều kiện khối đá có tính nứt nẻ ít. Theo đó, khối đá thay đổi từ nhóm khối đá không liên tục (có nứt nẻ) đến khối đá liên tục (không có tính nứt nẻ). Việc đánh giá khối đá theo tính chất liên tục hay không liên tục của phương pháp phân loại RMI này giúp cho người thiết kế, thi công rất nhiều để đánh giá điều kiện trường ứng xuất xung quanh công trình.

Chỉ số phân loại khối đá là một hàm của các tham số tương ứng. Tuy nhiên, từ 3 biểu đồ kết quả (hình H.1) có thể thấy, sự thay đổi của các tham số không đủ lớn để đường biểu diễn giá trị điểm số phân loại cắt qua nhau (hay nói cách khác không có sự thay đổi lớn của điểm số phân loại từ nhóm này sang nhóm khác) và do đó có thể kết luận các phương pháp đều cho kết quả có tính định lượng gần như nhau. Trong 3 phương pháp phân loại, do 2 phương pháp RMR và RMI có chú ý đến độ bền nén của đá nên khiến người sử dụng cảm thấy đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, cần chú ý phân loại theo RMI không chú ý đến thông số ảnh hưởng của nước ngầm.

Bảng 1 cho ta kết quả so sánh dự kiến kết cấu chống giữ yêu cầu dựa trên cơ sở các kết quả phân loại khối đá theo 3 phương pháp. Theo đó, không có sự khác nhau đáng kể về yêu cầu chống giữ theo 3 phương pháp. Tuy nhiên, phương pháp phân loại Q cho kết quả kiến nghị chống giữ phù hợp nhất.

3. Kết luận

Tính phù hợp và khả năng sử dụng các kết quả phân loại khối đá là cơ sở để đánh giá khả năng áp dụng của các phương pháp phân loại kinh nghiệm. Các phương pháp trên đều được đánh giá là phù hợp với điều kiện xác định thông số tại hiện trường. Tuy nhiên, giữa các vị trí đánh giá khác nhau, một vài thông số trong các phương pháp trên cho kết quả điểm số thay đổi một cách đáng kể. Những tác động bất lợi của những thay đổi đó có thể được giảm thiểu bằng cách cho điểm của thông số không chỉ bằng một giá trị cố định, duy nhất mà dưới dạng phạm vi biến động nào đó (chẳng hạn từ 25 - 30 chứ không phải 27). Các kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp phân loại theo Q có sự thay đổi nhạy cảm hơn so với 2 phương pháp phân loại còn lại.

Mặc dù với sự khác nhau về giá trị của các thông số đầu vào trong từng phương pháp nhưng kết quả cuối cùng là điểm số phân loại của khối đá giữa 3 phương pháp đều tương tự về loại và số lượng yêu cầu. Tuy nhiên, phương pháp phân loại Q cho kết quả kiến nghị chống giữ phù hợp nhất. Ngoài ra, phân loại theo Q được đánh giá là phương pháp đơn giản nhất khi áp dụng bởi nó chỉ cần dựa trên các kết quả đo vẽ tại hiện trường chứ không cần phải có các kết quả thí nghiệm trong phòng như theo phương pháp RMR và RMI (ngoại trừ trong trường hợp phải chú ý đến điều kiện ứng suất thì cả 3 phương pháp Q, RMR, RMI đều yêu cầu phải đưa vào tham số độ bền của đá). Tuy nhiên, hiện nay với sự ra đời của các thiết bị kiểm tra độ bền nén tại hiện trường thì yếu tố lợi thế này của phương pháp Q không còn nữa.

Mặc dù giữa 3 phương pháp có những khác nhau cơ bản và có sự thay đổi lớn về kết quả đánh giá của từng thông số riêng lẻ song kết quả phân loại cuối cùng đánh giá điều kiện khối đá và yêu cầu chống giữ lại gần như tương tự nhau. Nói cách khác, các phương pháp phân loại khối đá theo kinh nghiệm đều có thể là những công cụ hữu ích để đánh giá định hướng điều kiện khối đá và phục vụ thiết kế chống giữ cho công trình ngầm. Mặc dù phương pháp Q được coi là đơn giản hơn ở chỗ không cần xác định độ bền nén của đá song lại đòi hỏi phải xác định hai thông số là hệ số giảm ứng suất (SRF) và lưu lượng nước chảy, đây là hai thông số rất khó xác định trong giai đoạn lập quy hoạch, thiết kế. Chính vì vậy, không nên sử dụng phương pháp Q như là công cụ duy nhất.

Tài liệu tham khảo

Bieniawski, Z.T., Engineering Rock Mass Classifications, Wiley, 1989.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.