Sơ cứu bằng Đông y khi bất ngờ gặp trường hợp “trúng thử” (say nắng)
Triệu chứng:
Đang làm việc ngoài nắng, ra mồ hôi nhiều, đột nhiên đầu choáng, khó chịu trong ngực (cảm giác ngạt thở), người nóng (sốt cao), mạch nhanh, vật vã không yên, rối loạn ý thức (lẫn lộn, mê sảng), nôn mửa, co cứng bắp chân (chuột rút).
Nếu nặng thì co giật, hôn mê, mặt tái nhợt, truỵ mạch, thuộc phạm vi “thoát chứng” của Đông y.
Bệnh sinh:
Đông y cho rằng nhân tố gây bệnh là nắng nóng (thử nhiệt) hoặc đàm (đờm), thấp (ẩm) hợp cùng thử (nắng) bức bách mồ hôi ra nhiều, ở người chân khí đã bị suy, làm tổn thương Âm, dẫn đến Âm Dương mất điều hoà mà bộc phát chết.
Thực chất là người kém thích nghi với khí hậu hoặc người thể chất ốm yếu, lại gắng sức làm việc kéo dài dưới nắng gắt, nhiều khi trong điều kiện đói (do bỏ bữa để cố làm xong việc), khát (do không uống đủ lượng nước cần thiết) dẫn đến tình trạng rối loạn các trung tâm điều nhiệt của cơ thể. Đặc biệt do trung tâm chống nóng bị tê liệt (sau khi bị kích thích quá mạnh) nên nạn nhân thân nhiệt tăng lên (sốt cao, mê man) nhưng da lại tái nhợt (do mất phản ứng chống nóng).
Phép chữa:
* Trường hợp nặng: thanh nhiệt trấn kinh, khai khiếu cố thoát.
* Trường hợp nhẹ: thanh nhiệt giáng hoà.
Xử trí cấp cứu ban đầu:
Đưa bệnh nhân vào nằm chỗ mát, thoáng gió, cởi bớt quần áo. Nếu sẵn nước đá thì bọc nước đá vào khăn để chườm lạnh vùng trước trán, sau cổ gáy và tay chân, nhưng không chườm lạnh vùng bụng rốn.
Tác động lên huyệt:
Lập tức bấm huyệt khai khiếu và thực hiện châm ra máu (chích huyết, cắt lể) để hạ nhiệt xuống dần từng bước.
1. Bấm huyệt khai khiếu:
Với hai ngón tay trỏ (2) và ngón tay giữa (3) giữ góc hàm, dùng hai ngón tay cái (1) bấm cùng lúc vào 1/3 trên của rãnh nhân trung ở môi trên (huyệt nhân trung) và tại điểm giữa bờ dưới của môi dưới (huyệt thừa tương).
2. Châm ra máu:
Trên đường giữa của đầu, tại chân tóc trước, chân tóc sau (hai huyệt tiền, hậu phát tế) và nơi gặp nhau với đường nối hai đỉnh vành tai (huyệt bách hội). Cùng các huyệt ấn đường, toản trúc và thái dương.
Trên đường ngang qua góc móng tay và chỗ tiếp giáp da của gan tay và mu tay:
- Phía xương quay: của ngón cái (huyệt thiếu thương), của ngón tay trỏ (huyệt thương dương).
- Phía bên trong xương trụ: của ngón đeo nhẫn (huyệt quang xung) và của ngón tay út (huyệt thiếu trạch).
- Tại điểm giữa của đầu ngón tay giữa (huyệt trung xung).
- Trên điểm giữa của lằn ngang khoeo chân (huyệt uỷ trung).
3. Bấm huyệt phối hợp (nếu có điều kiện thì châm)
Nôn mửa: huyệt túc tam lý.
Co giật: các huyệt phong phủ, phong trì, thiên trụ, dương lăng tuyền và thừa sơn.
4. Chú ý:Để tránh trường hợp do giảm nhiệt ngoại biên đột ngột, gây tăng nhiệt ở trung tâm, sinh co giật, nên tiến hành theo thứ tự: một huyệt ở vùng đầu xong đến một huyệt ở tây chân. Không nhất thiết phải thực hiện đủ phương huyệt, vì khi người bệnh tỉnh lại và ý thức phục hồi thì ngừng châm.
Phối hợp dược thảo dễ tìm ở tuyến cơ sở và tại nhà
1. Hoa sen tươi (tiên hà hoa) hoặc lá sen tươi (tiên hà diệp) sắc uống. Với trúng thử sốt cao, miệng khô khát, nhiều mồ hôi.
2. Lá sen tươi, một lá to và tinh tre tươi (tiên trúc nhự) 60g. Với trúng thử mình nóng cổ vướng đàm.
3. Nước hẹ (cửu thái) hoặc nước gừng (khương trấp) một chén, uống trong trường hợp trúng thử có lẫn lộn, mê sảng.
Có sự gộp lại của nhân tố gây bệnh thì sức đề kháng của cơ thể ắt đã yếu “Tà chi sở tấu kỳ khí tất hư” (Tố vấn, Thiên 33: Bình nhiệt bệnh luận). Do đó, sau khi được sơ cứu tỉnh lại, người bệnh nên đến cơ sở y tế tin cậy để được chẩn đoán và điều trị nguyên nhân tiềm ẩn trong cơ thể, một cách căn bản.
Ở đây, chỉ giới hạn trong hoàn cảnh thực tế phải vận dụng Đông y để sơ cứu, khi bất ngờ gặp trường hợp trúng thử.
Nguồn: T/c Đông y, số 328,25/8/2001), tr 14







