Say sóng, say tàu xe, say máy bay
Đại Cương
Là một bệnh “xưa” nhất, được nhận ra từ khi con người biết dùng vật nổi để xê dịch xa trên mặt nước. Từ “nôn” của Pháp xuất thân từ cổ Hy Lạp có nghĩa “chiếc thuyền”. Tần số rất cao nhưng khó đánh giá do nhạy cảm là tùy từng người đối với kích thích, tức chuyển động, khó so sánh được với nhau. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu, nếu đi đường biển, say sóng giữa 1 và 100% trường hợp thì chỉ 1 đến 5% trường hợp đi ô tô và duới 1% đi xe lửa hay máy bay. Từng cá nhân có khác nhau, nhưng bất cứ người nào bị chuyển động lâu và mạnh đều mắc phải, người lớn, nữ và trẻ duới 12 tuổi mắc nhiều hơn người già (trẻ con bú thường nằm khi xê dịch nên ít bị).
Sinh lý bệnh
Vai trò của tai trong được biết từ lâu do ở bệnh nhân bị mất chức năng mê đạo không thể gây say sóng được bằng chuyển động. Tuy nhiên, cơ thể có nhiều thụ thể giác quan khác, thí dụ: chiếu hình di động không dính dáng gì với tai trong chẳng hạn; cũng như các sự thể trong môi trường có liên hệ đến chuyển động thể xác người bệnh, cảnh vật chung quanh thật sự hay biểu kiến đều được các thụ thể giác quan khác bắt chiếm như bộ máy mê đạo, hệ thị giác, và các thụ thể nằm trên cơ thể (nhất là ở gáy). Các thông tin đó được lưu trữ và phân tích tại trung tâm thần kinh và giúp đương sự thích nghi với chuyển động. Tương kỵ đối với phối hợp chức năng do các thụ thể cung cấp cùng một lúc có thể là nguồn gốc xung đột giác quan thể hiện ra lâm sàng là “say”. Tương kỵ thật ra thể hiện khi vuợt khả năng thích nghi của đương sự. Thích nghi này vừa là bẩm sinh mà cũng vừa là kinh nghiệm đã qua của đương sự tức một thích ứng bảo vệ; say do chuyển động vốn là chuyền đạt một thích ứng xấu của môi trường, giống như stress với nghĩa của thầy sinh lý học Selye đặt ra cho hội chứng thích ứng tổng quát.
Dấu hiệu và triệu chứng
Khó chịu toàn thân, các biểu hiện hệ tiêu hóa (nôn - mửa), vã mồ hôi, mặt tái xanh, mệt lả…là các dấu hiệu chính yếu, gần như hằng định đến mức có tác giả dùng làm số trong lâm sàng để đánh giá mức nặng nhẹ của bệnh. Có vài biểu hiện lâm sàng không thường xuyên hay rất ít đặc thù như nhức đầu thường chỉ ở những người mắc phải, hội chứng đỏ bừng mặt (bốc hoả) hay cảm giác lảo đảo mặc dù chuyển động đã dứt.
Về đáp ứng tim mạch, các dữ kiện trong y văn rất nghịch điệu, có lẽ do các cách chuyển động khác nhau dùng để thí nghiệm. Giả thiết được chấp nhận là trong hoạt tính hệ thần kinh tự động, hệ thần kinh phế vị và hệ thần kinh giao cảm tiết adrenalin tác động luân phiên nhau ưu thế của mình.
Các phương tiện điều trị
Như trên đã nói, bệnh say sóng tùy nhạy cảm cá nhân mỗi người, tùy cách kích thích và mức độ chuyển động. Y văn thường kể thí dụ các thuỷ thủ đánh cá xa bờ trên thuyền con bị say sóng dữ dội khi lưu chuyển trên những chiếc tàu to chở hành khách trên biển; vài phi hành gia mắc phải say sóng ở chuyến bay đầu tiên.
![]() |
| Di chuyển trên ghe thuyền dễ bị say sóng. |
Về thuốc, cần nhấn mạnh không có thuốc chữa mà chỉ để phòng ngừa.
- Scopoderm TTS:thời gian tác dụng: 72 tiếng. Dán sau tai 6 đến 12 tiếng trước khi khởi hành và gỡ ra ngay khi đến. Nếu vận chuyển lâu, thay miếng dán mới sau 72 giờ sử dụng.
- Các kháng histamin H1 như sau: Dramamine, Mercalm, Nausicalm, Nautamine. Cần uống từ 1 đến 2 tiếng trước khởi hành; nếu xê dịch lâu, cứ 6 đến 8 tiếng uống thêm một liều.
Không thể nói thứ nào hiệu nghiệm hơn thứ nào vì tùy cơ thể từng người; và chỉ có kinh nghiệm cá nhân là chắc. Hết sức cẩn trọng đối với người già và trẻ nhỏ.
- Hiệu năng không mong muốn:khô miệng, táo bón, lòa mắt, nguy cơ bí tiểu, lên cơn glaucoma mắt, kích thích tâm thần, mẩn ngứa.
- Các thuốc trên không hiệu nghiệm để chữa nôn mửa bệnh lý khác. Primpérantrị mửa, không hiệu nghiệm ngừa nôn mửa, say sóng.
- Scopolamin TTScòn dùng để chữa ran hấp hối do đường khí quản trên bị ứ tiết thừa nước bọt. Dán từ từ để đánh giá hiệu nghiệm: 1 - 2, cả đến 3 miếng dán trong 24 tiếng.









